Hà Nội phải trở thành một Thủ đô gương mẫu
Tác giả Trần Thị Hồng Minh với tác phẩm “Niềm đam mê” dành giải Nhất Cuộc thi ảnh nghệ thuật Hà Nội lần thứ 49. Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN

CHUẨN BỊ TIẾP QUẢN THỦ ĐÔ

Đầu tháng 1/1954 tại một phiên họp của Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề thực hiện đình chiến, tăng cường cán bộ ngoại giao và tổ chức tiếp quản Thủ đô, Hội đồng đã chuẩn y việc tổ chức lại một số cơ quan tại Hà Nội, khôi phục Di tích lịch sử chùa Một Cột và quyết định tổ chức sẽ có cuộc duyệt binh lớn và biểu tình lớn đón chào Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ trở về Thủ đô.

Theo tinh thần của Hiệp định đình chiến, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng. Để chuẩn bị cho ngày về tiếp quản Hà Nội, từ Thủ đô Việt Bắc gió ngàn, ngày 5/9/1954 tại huyện Đại Từ (Thái Nguyên) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với bộ đội, công an và cán bộ. Sau khi nêu đặc điểm tình hình mới và giải đáp một số thắc mắc, Người căn dặn mọi người khi “về xuôi phải làm gương mẫu trong mọi việc, tuỳ theo hoàn cảnh của mình mà gần gũi, giúp đỡ nhân dân. Gương mẫu trong lời nói, việc làm sao cho người ta thấy rõ mình là người kháng chiến[1]. Tiếp đó, tại phiên họp của Hội đồng Chính phủ ngày 11-12/9/1954 về vấn đề thực hiện đình chiến, tiếp quản Thủ đô và giải quyết một số công tác cụ thể khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hội đồng Chính phủ quyết định vấn đề tổ chức chuẩn bị tiếp quản Thủ đô, “thông qua bản Tám chính sách và Mười điều kỷ luật, thành lập ngay uỷ ban hành chính Hà Nội bên cạnh uỷ ban quân chính Hà Nội”[2]. Cũng theo biên bản của Hội đồng chính phủ ngày 17-18/9/1954, khi bàn về các công việc của vùng mới giải phóng và kế hoạch tiếp quản Thủ đô, Uỷ ban quân chính Hà Nội được giao nhiệm vụ là cơ quan lãnh đạo tối cao trong Hà Nội, thống nhất mọi quyền lãnh đạo đối với các ngành hoạt động.

Ngày 19/9/1954 tại khu Di tích Đền Hùng, nơi kết tụ hồn thiêng sông núi, nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên Phong trên đường về tiếp quản Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước[3]. Với Người, về tiếp quản Thủ đô, không có nghĩa là say xưa với chiến thắng, là quên đi nhiệm vụ chiến đấu bởi “Miền Nam Thành đồng Tổ quốc” vẫn đang rên xiết trong vòng vây của kẻ thù, vẫn phải “đi trước về sau” để tiếp tục hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân mà còn phải đối diện với những khó khăn của “thời hậu chiến”, tâm trạng và ảnh hưởng của tâm lý “thời bình”…

Ngày 19/9/1954, tại sân Đền Giếng, khu di tích Đền Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ và căn dặn các chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong. Ảnh tư liệu
 

Trước ngày 10/10/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa căn dặn các đơn vị bộ đội chuẩn bị vào Hà Nội phải chú trọng thực hiện 4 điều nên tránh và 6 điều phải làm để làm tròn nhiệm vụ cao quý của Quân đội nhân dân Việt Nam, để xứng danh là “Bộ đội Cụ Hồ”. Cụ thể, “phải ghi nhớ và làm đúng những điều Bác dặn sau: - Chớ tự kiêu, tự mãn. - Chớ rượu chè, cờ bạc, trai gái, hút thuốc phiện.- Chớ để lộ bí mật.- Chớ xa xỉ, tham ô lãng phí. – Phải kính trọng nhân dân, giúp đỡ nhân dân, đoàn kết với nhân dân. - Phải khiêm tốn, nghiêm chỉnh.- Phải giữ gìn tính chất trong sạch, chất phác của người chiến sĩ cách mạng. - Phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính. - Phải làm đúng 10 điều kỷ luật. - Phải luôn luôn cảnh giác, và phải thực hiện tự phê bình và phê bình để tiến bộ không ngừng”[4]. Đây là những vấn đề thuộc về công tác tư tưởng, cần phải được thấu triệt để không chỉ nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới mà còn thiết thực góp phần làm cho tình quân - dân bền vững, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân được nhân lên.

Tiếp đó, trong Lời kêu gọi đồng bào Thủ đô nhân ngày giải phóng, Người kêu gọi Chính phủ và nhân dân Hà Nội phải vượt qua những khó khăn, những hy sinh đau đớn trong hoàn cảnh mới để cùng nhau cố gắng khôi phục, củng cố, phát triển đời sống vật chất, đời sống tinh thần của Thủ đô “ngàn năm văn hiến”. Phát huy truyền thống văn vật của “thứ nhất kinh kỳ”, nhân dân Thủ đô hãy giữ gìn an ninh, duy trì, khôi phục mọi hoạt động sản xuất, buôn bán, kinh tế, tài chính, khôi phục và phát triển các hoạt động văn hoá, thực hiện tự do dân chủ, kêu gọi ngoại kiều yên tâm làm ăn,... để Thủ đô ngày một hồi sinh và phát triển.

Với tất cả tinh thần và trách nhiệm, thì mỗi người dân Hà Nội cần nhận thức đúng vị trí và trách nhiệm của mình đối với Thủ đô, vì: “Nói chung, Hà Nội là Thủ đô của cả nước ta. Nói riêng, Hà Nội là thành phố của tất cả những người dân Hà Nội… Nói tóm lại: mỗi một người dân Hà Nội, bất kỳ thuộc tầng lớp nào, bất kỳ làm công việc gì, đều cần phải cố gắng làm trọn nhiệm vụ của mình”[5], để “cả nước nhìn về Thủ đô ta. Thế giới trông vào Thủ đô ta. Tất cả chúng ta phải ra sức giữ gìn trật tự an ninh, làm cho Thủ đô ta thành một Thủ đô bình yên, tươi đẹp, mạnh khoẻ cả về vật chất và tinh thần”[6].

Đêm 14 rạng 15/10/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội. Người ở và làm việc tại một ngôi nhà trong nhà thương Đồn Thủy (Viện Quân y 108 bây giờ). Trong niềm vui của ngày trở về Thủ đô được giải phóng và đón những người con của miền Nam ruột thịt ra Bắc tập kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã quyết định “đại xá tội phạm”. Thực hiện nhiệm vụ nhằm ổn định sinh hoạt, bảo vệ tài sản cho những gia đình, đồng bào bị bắt ép, dụ dỗ “di cư theo Chúa và Nam mà lúc đi không giao cho ai trông coi”, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã giao nhân dân quan tâm bảo vệ để sau này “trả lại cho những đồng bào ấy khi họ trở về”.

Công việc tiếp quản Thủ đô đã có sự đồng góp không nhỏ của đồng bào, quân đội, cán bộ và nhân dân Hà Nội. Sự góp sức đó đã làm giảm thiểu những khó khăn của Thủ đô trước tình hình mới. Xem xét những người có công đặc biệt trong việc bảo vệ và tiếp quản Thủ đô, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội đồng Chính phủ đã đề nghị Chính phủ khen thưởng những tập thể và cá nhân có nhiều thành tích đóng góp cho một Thủ đô giải phóng.

Bác sỹ Trần Duy Hưng, Phó Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội trong đội ngũ tiến về tiếp quản Thủ đô, sáng ngày 10/10/1954. Ảnh tư liệu

GẶP GỠ VÀ ĐỘNG VIÊN NHÂN DÂN XÂY DỰNG THỦ ĐÔ NGÀY MỘT PHỒN THỊNH

Một trong những công việc cấp bách được Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn và kịp thời giải quyết đó là thông báo gặp gỡ rộng rãi các tầng lớp nhân dân Hà Nội. Ngày 16/10/1954 tại Bắc Bộ Phủ, Người tiếp đoàn đại biểu nhân dân Thủ đô. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1946, các cụ, các mẹ, anh chị em và các cháu thiếu nhi Hà Nội lại được gặp trực tiếp người Cha già dân tộc. Trong không khí vui mừng cảm động, Người nói: “Nhân dân Thủ đô ta có truyền thống cách mạng vẻ vang và lòng nồng nàn yêu nước, tôi chắc rằng đồng bào Thủ đô sẽ hăng hái phấn đấu làm cho mọi ngành hoạt động của Thủ đô ngày thêm phát triển, để làm gương mẫu, để dẫn đầu cho nhân dân cả nước ta trong công cuộc củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong khắp nước ta; để xây dựng một đời sống sung sướng, tươi đẹp, thái bình mãi mãi cho con cháu chúng ta”[7]. Đây là lần đầu tiên Người mong muốn và yêu cầu Thủ đô phấn đấu để trở thành phố gương mẫu, làm đầu tàu cho cả nước.

Tuy bận rộn nhiều công việc, Người vẫn dành thời gian tiếp đón và đi thăm hỏi các tầng lớp nhân dân, cán bộ, bộ đội, nhà máy, trường học trên địa bàn Thủ đô. Thăm và nói chuyện với cán bộ công nhân nhà máy điện Yên Phụ và nhà máy đèn Bờ Hồ, Người chỉ rõ: “Trước chúng ta làm cho thực dân Pháp, nay chúng ta làm cho nhân dân. Nhà máy này bây giờ là của nhân dân, của Chính phủ, của các cô, các chú. Các cô, các chú là chủ thì phải gìn giữ nhà máy làm cho nó phát triển hơn nữa. Muốn thế, trước hết phải đoàn kết một lòng[8]. Tại trường trung học Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Trưng Vương, Người nhấn mạnh: “Ngày nay, ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò người chủ, thì phải học tập”; đồng thời, khuyên phải “học đi đôi với hành”, “lớp này thi đua với lớp khác, trường này thi đua với trường khác, trong việc học và hành, làm cho nền giáo dục của ta phát triển và tốt đẹp”[9]… Đặc biệt, khi đến thăm các đơn vị tham gia duyệt binh mừng ngày Đảng, Chính phủ trở về Thủ đô, Người xúc động nói: “Hôm nay, Bác đến thăm các cô các chú có nghĩa là đến thăm toàn quân. Vì ở đây có đủ đại biểu các đơn vị. Khi các cô các chú về đơn vị, Bác gửi lời hỏi thăm và khuyến khích tất cả anh em, chị em cố gắng học tập”[10]… và khen ngợi những cố gắng của nhân dân, chiến sĩ Thủ đô trong việc làm tốt “chủ trương, chính sách của Chính phủ trong tiếp quản Thủ đô”.

Vì một Thủ đô ngày một phát triển, Người nhấn mạnh rằng, “việc khôi phục cuộc sống hoà bình là công việc hết sức khó khăn, phức tạp phải có sự tham gia của nhân dân” trong việc đề xuất ý kiến thiết thực, đôn đốc và phê bình hoạt động của Chính phủ. Để xây dựng Thủ đô ngày một giàu đẹp, đồng bào hãy cố gắng làm theo đúng chính sách của Chính phủ, tăng cường đoàn kết để thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc theo tinh thần của Hiệp định Giơnevơ.

HÀ NỘI LÀ THỦ ĐÔ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, GƯƠNG MẪU

Sáng ngày 1/1/1955, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, hàng chục vạn nhân dân Hà Nội, thay mặt cho nhân dân cả nước, đã mít tinh chào mừng Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ trở về Thủ đô. Nhân dân cả nước hướng về Hà Nội, chào mừng Thủ đô được giải phóng.

Để xây dựng và phát triển Thủ đô, để “Hà Nội phải làm thế nào để trở thành một Thủ đô xã hội chủ nghĩa”[11], Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Chính phủ có quyết tâm, toàn thể đồng bào Hà Nội đồng tâm nhất trí góp sức với Chính phủ, thì chúng ta nhất định vượt được mọi khó khăn và đạt được mục đích chung: Làm cho Hà Nội thành một Thủ đô yên ổn, tươi vui và phồn thịnh”[12]. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng bộ, chính quyền và quân dân Hà Nội phải đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động; trong từng quyết sách về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và trong cả từng thiết kế quy hoạch…Đồng thời, phải có sự đồng tâm, nhất trí, đồng lòng và sự nỗ lực, góp sức vô cùng vô tận của mỗi người dân Hà Nội.

Một trong những yêu cầu để Hà Nội “trở nên một thành phố gương mẫu cho cả nước” là phải mở rộng thành phố Hà Nội theo kế hoạch dài hạn. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “mở rộng thành phố phải căn cứ vào thiên thời (mưa, gió, nắng…), địa lợi (địa chất, sông hồ…) và nhân hoà (lợi ích của nhân dân, của Chính phủ…)”. Do đó, công tác quy hoạch tổng thể dài hạn và ngắn hạn Thủ đô “phải hợp lý, bảo đảm được cả về kinh tế, mỹ quan và quốc phòng, phải có kế hoạch vận động quần chúng tham gia, có ban phụ trách để chịu trách nhiệm, tránh lối làm đại khái, lãng phí”[13]. Vấn đề tổ chức thực hiện trong xây dựng phải có quy hoạch, theo quy hoạch, đồng bộ, làm từng bước và chú ý cả nội và ngoại thành Hà Nội; trong đó, Người yêu cầu quy hoạch thành phố phải có nhiều cây xanh, đường phải thẳng, có đường trung tâm buôn bán, hệ thống cống ngầm phải đảm bảo vệ sinh, hệ thống đường xe điện, xe lửa phải bố trí sao cho phù hợp[14]. Trong thiết kế quy hoạch, phải chú ý tính đồng bộ đường sá, hệ thống thoát nước, lưới điện…), tránh cản trở sự đi lại của nhân dân; phải có quy hoạch trước, tránh làm rồi lại phá đi và phải thực hiện nhanh-nhiều-tốt-rẻ. Người cũng lưu ý việc phải tranh thủ sự giúp đỡ của các nước anh em trong công việc trên[15]

Để trở thành Thủ đô gương mẫu, cùng với việc từng bước triển khai công tác quy hoạch, mỗi người dân Hà Nội đều phải nỗ lực và gương mẫu. Cụ thể, “cán bộ và công nhân sẽ rèn luyện, nâng cao tư tưởng, xứng đáng với sự tín nhiệm của Đảng, Chính phủ và nhân dân, quyết tâm làm cho xí nghiệp trở thành gương mẫu”[16] để phát triển kinh tế; cấp ủy, chính quyền và các tầng lớp nhân dân Hà Nội đều phải góp sức “giữ vững và phát triển thuần phong mỹ tục, làm cho Thủ đô ta ngày thêm tươi đẹp, phồn thịnh”[17]. Là đô thị lớn và có nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp, nhiều tệ nạn xã hội, lại trải qua chiến tranh, một trong những công việc mà Đảng và nhân dân Hà Nội phải tập trung thực hiện là làm cho Thủ đô "trong sạch về xã hội, phong phú, đẹp về đời sống tinh thần"; đặc biệt, phải dựa vào quần chúng nhân dân để kịp thời giải quyết nạn buôn lậu, gái điếm và các tệ nạn xã hội khác.

Để xây dựng một Thủ đô gương mẫu, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân đều phải gương mẫu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; trong đó, “đảng viên, đoàn viên bất cứ ở đâu, bất cứ làm công việc gì, phải thật gương mẫu. Đảng bộ Hà Nội phải gương mẫu cho các đảng bộ khác. Đảng bộ Hà Nội gương mẫu, sẽ góp phần đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững chắc đấu tranh giành thống nhất nước nhà”[18]. Muốn vậy, “trước hết là Đảng phải chuyển mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do các đảng viên hăng hái và gương mẫu”, “cần phải ra sức củng cố các chi bộ, để tấ cả các chi bộ trở nên thật sự là hạt nhân lãnh đạo của Đảng ở mọi bộ, mọi ngành, mọi nghề, mọi nơi… Đảng bộ Thủ đô và đồng bào, trước hết là công nhân Thủ đô, phải gương mẫu, làm đầu tàu để đưa toàn miền Bắc giành lấy thắng lợi”[19]...

Mong mỏi và chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xây dựng Hà Nội thành Thủ đô gương mẫu đã được Đảng bộ và mỗi người dân Hà Nội thấm nhuần và thực hiện. 65 năm sau khi Thủ đô được giải phóng, với sự đoàn kết, nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hà Nội, một diện mạo mới của Hà Nội đã khởi sắc. Những thành tựu về chính trị, kinh tế, văn hóa, an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh trong xây dựng và phát triển của Hà Nội đã được ghi nhận. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh; đời sống văn hóa của người dân Hà Nội ngày một được nâng cao; công tác giáo dục và đào tạo luôn được chú trọng đầu tư, chất lượng được giữ vững. Hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật phát triển tương đối đồng bộ gắn với phát triển nhà ở; xây dựng nông thôn mới đạt nhiều thành tựu; công tác phòng ngừa, khắc phục tình trạng ô nhiễm, khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái được tăng cường. Đặc biệt, Hà Nội là đơn vị đầu tiên trong cả nước hoàn thành việc hỗ trợ xây dựng và sửa chữa nhà ở đối với hơn 9.000 người có công với cách mạng; 100% gia đình người có công với cách mạng đều có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư nơi sinh sống, không còn hộ gia đình có công với cách mạng thuộc diện nghèo, nhất là cuộc sống của nhân dân miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện và từng bước nâng cao... đã góp phần vào thành tựu chung của cả nước, nâng cao vị thế của Việt Nam nói chung, Thủ đô Hà Nội nói riêng trong khu vực và trên trường quốc tế.

Một Hà Nội xanh, ngày càng sạch, đẹp, văn minh, thanh lịch vươn lên sau chiến tranh đã mở rộng, phát triển to lớn, năng động nhưng vẫn giữ vững nét truyền thống, trở thành tâm điểm của các đô thị châu Á và khu vực. Những đóng góp tích cực của Thủ đô trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, cũng như trong sự nghiệp phát triển, xây dựng đô thị, giữ gìn môi trường sống, thúc đẩy phát triển văn hóa giáo dục, chăm lo giáo dục công dân và cộng đồng đã tạo nên một Hà Nội được vinh danh “Thành phố vì hòa bình”- điểm đến của nhiều du khách trong và ngoài nước.

Bên cạnh những thành tựu, vẫn còn đó những khó khăn mà Hà Nội phải đối diện, vượt qua để ngày một phát triển nhanh và bền vững. Trong đó, những yếu tố như quy mô diện tích, dân số, đơn vị hành chính tăng nhiều, điều kiện địa lý, dân cư, văn hóa khác biệt… là những thử thách, đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hà Nội phải nỗ lực, khắc phục và vượt lên, để một Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội với bề dày truyền thống oai hùng trong lịch sử dựng nước và giữ nước luôn xứng đáng là trái tim của cả nước.

Để xây dựng và phát triển “Hà Nội - Niềm tin yêu và hy vọng của hôm nay và mai sau”, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành một Thủ đô xã hội chủ nghĩa, gương mẫu như lời Bác dặn, trong thời gian tới, Hà Nội cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục xây dựng Đảng bộ Thành phố trong sạch, vững mạnh; gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, với Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, 8 khóa XII và các Quy định về nêu gương. Phát huy vai trò tiền phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt, đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển Thủ đô. Tiếp tục thực hiện công tác cán bộ, rà soát, bổ sung, theo phương châm “động” và “mở”, khắc phục tư tưởng cục bộ, khép kín trong quy hoạch cán bộ, bảo đảm dân chủ, công khai; gắn quy hoạch với đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt trong sạch, vững mạnh.

Hai là, tập trung và phát huy mọi nguồn lực để phát triển kinh tế nhanh, bền vững theo hướng đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại kinh tế Thủ đô; thực hiện đồng bộ 3 đột phá chiến lược; phát huy mọi khả năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Giải quyết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; trong đó, chú trọng phát triển hạ tầng, xây dựng, quản lý đô thị, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông, bảo đảm kỷ cương và văn minh đô thị, chủ động phòng tránh thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, chống ô nhiễm môi trường, tăng cường bảo vệ môi trường sinh thái...

Ba là, xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam nói chung, người Hà Nội nói riêng theo Nghị quyết 33-NQ/TW khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Xây dựng chuẩn mực văn hóa, cốt cách tâm hồn người Hà Nội thanh lịch phát triển toàn diện, văn minh với những giá trị nhân văn sâu sắc, để văn hóa và con người Hà Nội thực sự trở thành giá trị tinh thần to lớn, nguồn lực quan trọng của Thủ đô cũng như cả nước. Tiếp tục phát triển giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thực hiện tốt các chính sách xã hội, chính sách đối với người có công, thu hẹp dần khoảng cách giàu - nghèo giữa thành thị và nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nguời dân Thủ đô.

Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, địa bàn dân cư gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, với phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc", "Chung sức xây dựng nông thôn mới", với thực hiện “Năm kỷ cương hành chính”, “Năm trật tự về văn minh đô thị”, nhất là với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để tạo sự lan tỏa trong cộng đồng những gương người tốt, việc tốt, các mô hình, tập thể điển hình, tiên tiến, góp phần tăng cường sự đồng thuận, đồng lòng, đồng sức của mỗi người dân Thủ đô trong xây dựng và phát triển thành phố xanh, sạch, đẹp.

Năm là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và tạo điều kiện để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, giám sát của mình trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại địa phương. Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia và thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở, thông qua đó, nắm bắt những tâm tư, nguyện vọng, ý kiến, phản ánh của nhân dân để một mặt kịp thời kiến nghị các cấp có thẩm quyền giải quyết, tạo không khí dân chủ lành mạnh trong xã hội, mặt khác nâng cao tinh thần trách nhiệm trong phụng sự nhân dân khi thực thi công vụ./.

Theo các chuyên gia của UNESCO, cộng đồng quốc tế rất ấn tượng trước sự chuyển mình của Hà Nội, tạo ra một hình ảnh nhận diện mới, không chỉ cho Hà Nội mà còn cho Việt Nam.

Thủ đô Hà Nội đã khắc phục được hậu quả của chiến tranh để phát triển, trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa quan trọng của cả nước. Bên cạnh đó, chính quyền của Hà Nội cũng đã và đang đưa ra những chính sách nhằm hướng tới sự phát triển bền vững, cân bằng hài hòa giữa tăng trưởng và bảo vệ môi trường.  

Theo đó, sáng kiến như phố đi bộ được hoan nghênh, trong khi Hà Nội cũng là cái nôi sinh ra nhiều không gian sáng tạo đang trở thành điểm nhấn cho giới sáng tạo, giới trẻ, cho thấy môi trường chính sách về tiềm lực nhân trí sĩ đều rất lớn.

Trần Đình Thanh Mai

-------------------

[1] Tài liệu lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng

[2] Biên bản Hội đồng chính phủ 1954

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.9, tr.59

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.9, tr.82-83

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.9, tr.86

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.9, tr.59

[7]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.9, tr.91

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.9, tr.203

[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.9, tr.179

[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.9, tr.220

[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.12, tr.172

[12]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.9, tr.80

[13] Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.7, tr.136

[14]Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.7, tr.359

[15] Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.7, tr.391

[16] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.11, tr.573

[17] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.11, tr.246

[18] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.12, tr.173

[19]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.13, tr.30-31

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website

Xem nhiều nhất