Chỉ tiêu phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở - nguy cơ "bất khả thi "

CHỈ CÓ KHOẢNG 8-10% HỌC SINH SAU THCS ĐI HỌC NGHỀ

Hiện nay, học sinh sau THCS được phân vào 4 luồng: 1) Học tiếp lên trung học phổ thông (THPT); 2) Học bổ túc THPT; 3) Học nghề hoặc trung cấp; 4) Tham gia thị trường lao động.

Công tác phân luồng học sinh sau THCS luôn được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, nhưng mục tiêu tăng tỷ lệ học sinh sau THCS đi học nghề đến nay vẫn còn rất hạn chế. Vậy nguyên nhân do đâu?

Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 đề ra mục tiêu là học sinh sau THCS vào giáo dục nghề nghiệp (GDNN) chiếm tỷ lệ 30% vào năm 2020, nghĩa là đến năm 2020, quy mô học sinh tốt nghiệp THCS vào hệ thống GDNN là khoảng 320.000 -330.000 học sinh. Đây là nhiệm vụ rất nặng nề đối với hệ thống giáo dục nghề nghiệp.

Vì tỷ lệ khá lớn học sinh sau THCS vào học THPT, nên đáng ra, các trường trung cấp chỉ cần tuyển học sinh sau THCS để đào tạo là phù hợp, thì đã phải tuyển học sinh sau THPT mà không tuyển học sinh sau THCS. Như vậy, số học sinh tốt nghiệp THCS không được vào THPT (chiếm khoảng 15% hàng năm) sẽ không có cơ hội học tiếp các trường trung cấp. Tình trạng này càng làm trầm trọng thêm việc học sinh sau THCS không muốn đi học nghề mà tìm mọi cách để học THPT.

Từ thực tế về công tác phân luồng trong nhiều năm qua, có thể nói rằng, mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 có 30% học sinh sau tốt nghiệp THCS đi học nghề sẽ là “bất khả thi”. Công tác phân luồng học sinh sau THCS, nếu không có giải pháp mạnh sẽ dẫn đến cơ cấu nhân lực của nước ta ngày càng bất hợp lý, không đáp ứng yêu cầu nhân lực phục vụ phát triển của nền kinh tế - xã hội trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.


 

CẦN NHỮNG GIẢI PHÁP MẠNH

  Để khắc phục những yếu kém và khó khăn của công tác phân luồng học sinh sau THCS, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phối hợp đồng bộ cả hệ thống chính trị. Phân luồng là bài toán liên ngành, vì vậy cần tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự quản lý của các cấp chính quyền và đẩy mạnh sự phối hợp cùng chung tay thực hiện công tác phân luồng. Trên cơ sở đó, xây dựng quy chế, kế hoạch, gắn kết chặt chẽ giữa các cơ quan tham mưu của các cấp ủy đảng với các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp... trong quá trình thực hiện các mục tiêu phân luồng.

Hai là, đổi mới công tác thông tin tuyên truyền và truyền thông. Công tác tuyên truyền vận động cần được đổi mới từ Trung ương đến cơ sở, nhằm nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành và toàn xã hội về việc phân luồng học sinh sau THCS. Tập trung quán triệt, tuyên truyền sâu rộng các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác phân luồng học sinh sau THCS. Làm rõ chủ trương phân luồng sau THCS là một cách lựa chọn phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mỗi cá nhân trong nền kinh tế thị trường, hướng tới có việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống và có cơ hội tăng tiến. Ngoài việc tiếp tục trang bị học vấn phổ thông và tham gia lao động sản xuất, người học còn có thể đi học nghề phù hợp với trình độ, điều kiện của mình. Phân luồng học sinh sau THCS cũng không phải là ép buộc những học sinh sau THCS yếu thế về học lực và hoàn cảnh kinh tế như một số nhận thức lệch lạc. Cần phải khẳng định rằng, đây là tạo ra một phương thức, cơ hội học tập phù hợp, có hiệu quả; đáp ứng nhu cầu được học và nguyện vọng có nghề nghiệp của người học. Từ đó, xoá bỏ tâm lý mặc cảm hoặc kỳ thị đối với những người lựa chọn con đường đi học nghề sau khi tốt nghiệp THCS (vào các trường trung cấp hoặc vừa làm vừa học theo chương trình giáo dục thường xuyên).

Các cơ quan chức năng, các địa phương, nhất là ngành Giáo dục và Đào tạo, ngành Lao động, Thương binh và Xã hội cần tích cực phối hợp với ngành Tuyên giáo và các đoàn thể nhân dân để làm tốt công tác thông tin tuyên truyền; giúp mọi người dân dễ dàng tiếp cận với các loại thông tin về dạy nghề và nhu cầu sử dụng nhân lực của xã hội.

Ba là, đổi mới cơ chế chính sách. Nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh sau THCS; huy động nguồn lực xã hội trong và ngoài nước tham gia giáo dục hướng nghiệp, định hướng phân luồng học sinh sau THCS; tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh học liên thông giữa các trình độ đào tạo, lên các cấp học cao hơn. Bổ sung cơ chế chính sách khuyến khích học sinh đi học nghề; hỗ trợ kinh phí cho học sinh dân tộc thiểu số, học sinh nghèo, học sinh thuộc đối tượng chính sách và những cơ sở giáo dục nghề nghiệp - đào tạo học sinh sau tốt nghiệp THCS. Khuyến khích các doanh nghiệp và đơn vị sử dụng lao động tích cực tham gia giáo dục nghề nghiệp và tuyển dụng lao động ở các cơ sở đào tạo nghề. Nâng cao trách nhiệm giải trình, công khai chất lượng của các cơ sở đào tạo với xã hội, từ đó tiếp nhận ý kiến của nhân dân để điều chỉnh mục tiêu, chương trình đào tạo, cách thức quản trị nhà trường, tạo sự kết nối tốt hơn giữa nhà trường với xã hội.

Tiếp tục đổi mới hơn nữa cơ chế, chính sách tài chính, xã hội hóa giáo dục. Theo đó, cần tính đúng chi phí cho mỗi nghề, trình độ đào tạo. Nhà nước chỉ đầu tư, hỗ trợ cho những ngành, nghề quan trọng không thu hút được người học; hỗ trợ những đối tượng chính sách. Còn những ngành, nghề khác, tùy mức độ để thực hiện chính sách xã hội hóa; một số đối tượng khác sẽ được Nhà nước hỗ trợ kinh phí bằng cách cho vay ưu đãi; chuyển từ phân bổ kinh phí thường xuyên sang cơ chế Nhà nước đặt hàng.


 

Bốn là, xây dựng đội ngũ giáo viên đạt chuẩn. Để đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đạt về chất lượng, cần tiếp tục tăng chỉ tiêu, đầu tư và nâng cấp cơ sở vật chất cho các cơ sở đào tạo. Đồng thời, tuyển dụng những người có kinh nghiệm, năng lực từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, sau đó bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho họ. Thực hiện chế độ tập huấn thường xuyên và định kỳ đào tạo lại đội ngũ giáo viên. Ban hành tiêu chuẩn nghề nghiệp và kiểm định chất lượng đối với giáo viên dạy nghề. Đồng thời, khuyến khích cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, các trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, những nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề. Bên cạnh đó, cần dành thời gian thỏa đáng để giáo viên dạy nghề trực tiếp tham gia hoạt động ở các doanh nghiệp để vừa nâng cao tay nghề, vừa nâng cao thu nhập. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên kiêm nhiệm làm công tác giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng trong trường phổ thông. Mở rộng khung lương giáo viên dạy nghề giỏi tương đương với những cán bộ giảng dạy có trình độ cao.

Năm là, tạo sự liên thông kiến thức cho học sinh học nghề. Xây dựng chương trình của các cấp học bảo đảm sự liên thông theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam, tạo điều kiện cho người học có thể học suốt đời nhằm không ngừng nâng cao trình độ, dễ dàng chuyển đổi nghề, nhất là một số nghề trong cùng nhóm ngành. “Mềm hóa” quá trình đào tạo và đa dạng các hình thức đào tạo phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của người học; tích hợp lý thuyết với thực hành, học đi đôi với hành. Sáu là, đổi mới công tác tư vấn hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần tích cực, chủ động phối hợp cùng với các doanh nghiệp tham gia vào công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh. Cần đào tạo và tuyển dụng cán bộ làm công tác xã hội, thực hiện nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp và tư vấn nghề nghiệp. Đổi mới công tác hướng nghiệp, làm cho học sinh thấy rõ thế mạnh của mình và nhu cầu nhân lực của các ngành, nghề; của các địa phương - nhất là nơi mình và gia đình mình đang sinh sống - để chọn ngành nghề cho phù hợp; hướng học sinh vào con đường phát triển phù hợp với khả năng và điều kiện của mình trong tương lai. Quy hoạch lại mạng lưới, đầu tư mở rộng quy mô và nâng cao năng lực hướng nghiệp, dạy nghề cho các trường phổ thông, trung tâm kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân và các doanh nghiệp thành lập các trung tâm hướng nghiệp cho học sinh.

Bảy là, quy hoạch lại hệ thống giáo dục và nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Quy hoạch mạng lưới giáo dục nghề nghiệp theo hướng không tăng số trường đại học; mở rộng các trường cao đẳng và trung cấp, đóng cửa các cơ sở đào tạo chất lượng thấp. Phát triển các trường trung học kỹ thuật; các chương trình giáo dục, các hình thức dạy và học, nơi dạy và học, thời gian dạy và học, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), phát triển và khai thác các tài nguyên giáo dục mở, từng bước mở rộng mô hình học trực tuyến, tạo điều kiện để học sinh và người lao động tiếp cận miễn phí các khóa học.

Tám là, đổi mới công tác dự báo nhu cầu nguồn nhân lực, nhu cầu đào tạo và giải quyết việc làm cho người đã qua đào tạo nhưng đang thất nghiệp. Xây dựng hệ thống cơ quan làm công tác dự báo nhu cầu nhân lực, xác định rõ cơ cấu trình độ đào tạo theo lĩnh vực, vùng miền, địa phương. Từ đó, dự báo nhu cầu đào tạo trên phạm vi quốc gia, vùng, lãnh thổ, địa phương. Quy hoạch lại các sàn giao dịch việc làm, đổi mới nội dung phương thức của các cơ quan, đơn vị có liên quan đến giới thiệu và giải quyết việc làm cho người lao động./.

 

PGS.TS. Nguyễn Đắc Hưng

Ban Tuyên giáo Trung ương

 

_____________________________

Bài đăng Tạp chí Tuyên giáo số 1/2019

 

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Liên kết website

Mới nhất