Những kết quả đạt được của lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2013-2018
Giáo dục nghề nghiệp từng bước gắn với thị trường lao động (ảnh minh họa)

1. Về tổ chức hệ thống GDNN trong hệ thống giáo dục quốc dân và tổ chức bộ máy quản lý GDNN.

Luật GDNN ra đời đã hình thành được hệ thống GDNN trong hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó có quy định 3 cấp trình độ đào tạo là SC, TC và CĐ, nhằm đáp ứng yêu cầu về cơ cấu nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế trong giai đoạn mới. Nhiều nội dung mới, mang tính đột phá, tiếp cận với GDNN của các nước tiên tiến trên thế giới đã được quy định trong Luật GDNN.

Đã hình thành bộ máy quản lý nhà nước từ trung ương tới địa phương của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về GDNN. Từng bước tăng cường cán bộ làm công tác quản lý nhà nước từ trung ương tới địa phương và cán bộ quản lý tại các cơ sở GDNN.

Ban hành tương đối đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật GDNN, Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Bộ luật Lao động (năm 2012), Luật Việc làm (2013) và các Luật khác có liên quan; ban hành chiến lược phát triển giáo dục, chiến lược phát triển dạy nghề, quy hoạch phát triển dạy nghề, quy hoạch phát triển giáo dục và nhiều chương trình, đề án như đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đề án đào tạo nghề cho bộ đội xuất ngũ, đề án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020...; nhiều cơ chế, chính sách cho các nhóm đối tượng người học, người dạy, cơ sở GDNN, doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động … được ban hành phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đặc biệt đã thí điểm triển khai cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại 03 trường CĐ theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ và tổ chức thí điểm cơ chế đặt hàng GDNN (1).

2. Về quy mô, mạng lưới các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Mạng lưới cơ sở GDNN phát triển rộng khắp cả nước, đa dạng về loại hình, trình độ đào tạo và mô hình hoạt động. Hiện có 1.974 cơ sở GDNN (số liệu 31/12/2017); tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã có trường TC, trường  CĐ; đãquy hoạch mạng lưới trường nghề chất lượng cao(2)và các nghề trọng điểm quốc gia, khu vực, quốc tế theo từng cơ sở GDNN, từng vùng, địa phương và trình độ đào tạo(3); hình thành và phát triển được một số trường nghề đặc thù để đào tạo cho người khuyết tật, người dân tộc thiểu số(4) và trường đào tạo các ngành năng khiếu (văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao)(5), trường chính trị.

3. Về công tác tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp

Tuyển sinh dạy nghề giai đoạn 2011-2015 thực hiện được khoảng 9,17 triệu người. [MT1] Tuyển sinh sơ cấp (SC), trung cấp (TC), cao đẳng (CĐ) thực hiện linh hoạt, nhiều đợt trong năm theo hình thức xét tuyển tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có nhiều cơ hội vào học nghề. Trong giai đoạn 2011-2015, đã đào tạo nghề cho trên 4,1 triệu lao động nông thôn theo Đề án 1956 của Chính phủ. Riêng số được hỗ trợ học nghề theo chính sách của Đề án 1956 là trên 2,7 triệu người.

4. Về xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp

Đội ngũ nhà giáo đã phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, từng bước khắc phục được tình trạng bất hợp lý về cơ cấu ngành nghề của nhà giáo; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và kỹ năng nghề, trình độ tin học, ngoại ngữ của nhà giáo được cải thiện và từng bước được chuẩn hóa; đã tổ chức thí điểm bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm quốc tế; hình thành được 45 khoa sư phạm dạy nghề tại các trường đại học và các trường CĐ. Đội ngũ cán bộ quản lý của các cơ sở GDNN tăng nhanh và từng bước đạt chuẩn; gần 45% số cán bộ quản lý các cơ sở GDNN đã qua đào tạo, bồi dưỡng về quản lý về GDNN cả trong nước và nước ngoài.

5. Về xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

Một bộ phận chương trình đào tạo được phát triển dựa trên các tiêu chuẩn kỹ năng nghề theo phương pháp phát triển chương trình DACUM bằng sự phân tích nghề, phân tích công việc theo vị trí việc làm tương ứng với các nhiệm vụ và công việc của ngành, nghề, với sự tham gia của doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động để lựa chọn những kiến thức, kỹ năng, thái độ cơ bản, cần thiết đưa vào chương trình cho phù hợp. Cấu trúc chương trình được xây dựng theo mô đun tích hợp kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành, kỹ năng mềm, kỹ năng khởi nghiệp và thái độ nghề nghiệp..., đảm bảo sự liên thông giữa các cấp trình độ đào tạo. Tổ chức tiếp nhận, chuyển giao đồng bộ 12 bộ chương trình đào tạo cấp độ quốc tế từ Úc, hoàn thành  việc chuyển giao đồng bộ 22 bộ chương trình đào tạo cấp độ quốc tế từ Đức (hiện đang chuẩn bị các điều kiện cần thiết phục vụ cho việc tổ chức đào tạo thí điểm), ban hành 96 bộ chương trình dạy nghề trọng điểm cấp độ quốc gia độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề, ban hành 265 chương trình khung trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề. Đã tổ chức thí điểm đào tạo trình độ Cao đẳng của các nghề trọng điểm cấp độ quốc tế được chuyển giao bộ chương trình từ Úc hoặc thí điểm đào tạo tiếp cận năng lực theo tiêu chuẩn của Pháp và Bỉ; thí điểm đào tạo theo mô hình “đào tạo nghề kép” của Đức, Thụy Sỹ.

6. Về đổi mới các hình thức đào tạo giáo dục nghề nghiệp

Đã tổ chức đào tạo các cấp trình độ theo hình thức niên chế hoặc mô đun; phương pháp dạy và học từng bước được đổi mới theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực, độc lập, tăng thời gian tự rèn luyện tay nghề và làm việc theo nhóm của học sinh, sinh viên; các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động đã bước tham gia trong công tác kiểm tra, thi đánh giá như xây dựng ngân hàng đề thi, tham gia hội đồng thi. Việc tổ chức đào tạo đã dần chuyển sang đào tạo theo hình thức tích lũy tín chỉ theo Luật GDNN.

7. Về cơ sở vật chất giáo dục nghề nghiệp

Cơ sở vật chất, thiết bị của các cơ sở GDNN đã được đầu tư đáp ứng yêu cầu đào tạo. Giai đoạn 2011-2015 đã ban hành 212 bộ danh mục thiết bị dạy nghề tối thiểu trình độ CĐ, TC; 400 cán bộ quản lý tại các cơ sở GDNN được đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ quản lý và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị.

8. Về công tác kiểm định, đánh giá chất lượng giáo dục nghề nghiệp

Đã tổ chức kiểm định, công nhận kết quả kiểm định chất lượng dạy nghề và công bố công khai kết quả 25% trường CĐN, 10% trường TCN, 3,5% trung tâm dạy nghề; số lượng cơ sở GDNN thực hiện tự kiểm định tăng hàng năm. Đã thí điểm xây dựng hệ thống quản lý chất lượng ở một số trường CĐ được tập trung đầu tư thành trường chất lượng cao với sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Hợp tác phát triển Đức, Hội đồng Anh. Một số cơ sở GDNN đã thành lập được đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng. Đã triển khai thí điểm kiểm định chất lượng chương trình đào tạo.

9. Việc xây dựng chuẩn đầu ra các nghề đào tạo

Đã xây dựng và ban hành tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia cho 189 nghề; cấp giấy chứng nhận cho 36 trung tâm đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; hình thành đội ngũ đánh giá viên; đã thí điểm đánh giá kỹ năng nghề cho người lao động ở 22 nghề và 4 nghề theo tiêu chuẩn Nhật Bản.

10. Về hiệu quả đào tạo gắn với doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu thị trường

Chất lượng và hiệu quả đào tạo GDNN có bước chuyển biến tích cực. Đào tạo từng bước chuyển từ hướng “cung” sang hướng “cầu”, gắn với nhu cầu nguồn nhân lực, nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động và cầu việc làm của thị trường lao động, đặc biệt là khối các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao độngcó vốn đầu tư nước ngoài, các các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động đòi hỏi lao động trực tiếp tay nghề cao ở các lĩnh vực công nghệ tiên tiến, do vậy đã góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài(6); số lượng cơ sở GDNNđược cấp giấy chứng nhận đạt chuẩn kiểm định chất lượng tăng lên qua các năm(7); lao động Việt Nam đã giành nhiều huy chương, chứng chỉ xuất sắc tại các cuộc thi tay nghề khu vực ASEAN và thế giới.

11. Về công tác xã hội hóa, thu hút nguồn lực đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp

Các nguồn lực đầu tư cho GDNN đã có bước chuyển tích cực, trong đó nguồn lực đầu tư cho GDNN đã bước đầu phát triển theo xu hướng xã hội hóa(8); đã hình thành được mạng lưới cơ sở GDNN ngoài công lập phong phú về hình thức tổ chức và đa dạng về phương thức đào tạo.

12. Về công tác nghiên cứu khoa học

Đã triển khai các nghiên cứu khoa học, xây dựng các luận cứ khoa học phục vụ cho công tác quản lý lĩnh vực GDNN; đã xuất bản được báo cáo quốc gia thường niên về dạy nghề (thực hiện năm 2012, 2013, 2014) bằng tiếng Việt và tiếng Anh, được người đọc trong và ngoài nước đánh giá cao; phổ biến thông tin khoa học trong hệ thống dạy nghề thông qua Tạp chí Khoa học dạy nghề, đặc san và các ấn phẩm khác về thị trường lao động, hướng nghiệp học nghề và việc làm cho lao động nông thôn, thanh niên và lao động trẻ trong các doanh nghiệp.

13. Về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giảng dạy

Thí điểm vận hành hệ thống quản lý, thông tin quản lý tại một số trường CĐ; xây dựng tổ chức thí điểm số hóa, mô phỏng hóa (mô phỏng 2D/3D) các bài giảng điện tử; ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy có nhiều cải thiện.

14. Về hợp tác quốc tế trong giáo dục nghề nghiệp

Hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GDNN được đẩy mạnh cả về qui mô, hiệu quả, hình thức và đa dạng hóa về nội dung, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học GDNN, chuyển giao các công cụ quản lý, đảm bảo chất lượng và các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề theo hướng quốc tế hóa. Tích cực triển khai các hoạt động hợp tác song phương với các cơ quan, tổ chức của các nước./.

Đỗ Quang Thành

------------------------

(1) Triển khai thực hiệnQuyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, đã lựa chọn được 26 trường có đủ điều kiện để tổ chức đào tạo ở 38nghề cho 12.107 học sinh (4.368 CĐN, 7.739 TCN). Kết quả tuyển sinh được 10.540 người (đạt 87% chỉ tiêu), trong đó: CĐN: 3.611 người, TCN: 6.929 người. Số học sinh tốt nghiệp: 8.789 người (đạt 83,4% so với số thực tuyển), trong đó: CĐN: 2.984, TCN: 5.805. Số học sinh tốt nghiệp đã được bố trí việc làm đúng nghề đào tạo: 8.501 người (đạt tỷ lệ 96,7% so với số tốt nghiệp).

(2) Quyết định số 761/QĐ-TTg, ngày 23/5/2014 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Đề án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020.

(3) Quy định tại Quyết định số 854/QĐ-LĐTBXH ngày 6/6/2013 của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH phê duyệt nghề trọng điểm và trường được lựa chọn nghề trọng điểm giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020; Quyết đinh số 1477/QĐ-LĐTBXH, ngày 22/10/2012 và quyết định 960/QĐ-LĐTBXH ngày 26/06/2013 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc phê duyệt nghề trọng điểm và trường ngoài công lập, trường thuộc doanh nghiệp nhà nước được lựa chọn nghề trọng điểm giai đoạn 2012-2015, định hướng đến năm 2020.

(4) Gồm 03 trường TCN với nhiệm vụ chủ yếu là dạy nghề cho người khuyết tật tại Thái Bình, Thanh Hóa; 01 trường CĐN thanh niên dân tộc Tây Nguyên; 12 trường TCN với nhiệm vụ chủ yếu là dạy nghề cho người dân tộc thiểu số tại 12 tỉnh, 03 trường CĐN có khoa dạy nghề cho người dân tộc thiểu số.

(5) Trường văn hóa nghệ thuật gồm 12 trường CĐ, 27 trường TC, trường đào tạo thể thao gồm 1 trường CĐ, 3 trường TC.

(6) Theo số liệu của Tổng cục Dạy nghề: trung bình trên 70% học sinh, sinh viên tốt nghiệp các cơ sở dạy nghề tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp, có nhiều nghề ở trình độ CĐN tỷ lệ này lên tới 90%.

Kết quả đào tạo theo Đề án 1956: sau khi học nghề xong số người có việc làm là 78,7%, trong đó, số người được doanh nghiệp tuyển dụng chiếm 22,8%...

(7) 52,4% các trường CĐN tham gia kiểm định được cấp giấy chứng nhận đạt chuẩn kiểm định và 91% các trường đầu tư tập trung thành trường chất lượng cao được được cấp giấy chứng nhận đạt chuẩn kiểm định.

(8) Đóng góp của người dân thông qua học phí, thu từ dịch vụ sự nghiệp của các cơ sở GDNN, đầu tư, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước khoảng 37%.

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Liên kết website

Mới nhất