Ban Tuyên huấn khu 5 với sứ mệnh lịch sử
Đồng chí Võ Chí Công, Bí thư Khu ủy 5 với BTH Khu ủy 5 tại Dốc Voi, Trà My năm 1972.

Đó là những lời nhận xét của đồng chí Võ Chí Công, nguyên Bí thư Khu ủy 5, trong lần gặp mặt cán bộ Ban Tuyên huấn Khu 5.

Tháng 5-1960, tại Nước Là, xã Trà Mai, huyện Nam Trà Mỹ, Ban Tuyên huấn Liên Khu ủy 5 được thành lập, với bí danh là K40, do đồng chí Trương Chí Cương (Tư Thuận), Phó Bí thư Liên Khu ủy phụ trách.
 
Khi thành lập, Ban Tuyên huấn Khu 5 chỉ có vài ba đồng chí cán bộ, đến năm 1964, Ban Tuyên huấn Khu 5 đã hoàn chỉnh bộ máy chuyên môn với lực lượng cán bộ hơn 600 người. Là cơ quan tham mưu cho Khu ủy về công tác tư tưởng, chính trị trong kháng chiến chống Mỹ tại chiến trường Khu 5, Ban Tuyên huấn Khu 5 được Khu ủy giao quản lý và chỉ đạo nội dung chuyên môn thuộc các binh chủng như: tuyên truyền, huấn học, báo chí, thông tấn xã, giáo dục, văn hóa, văn nghệ, điện ảnh, các đoàn nghệ thuật, nhà in, Đài Minh Ngữ, Trường Đảng… Khi mới thành lập, Ban Tuyên huấn được Ban Thường vụ Khu ủy giao nhiệm vụ trọng tâm là tuyên truyền nhanh chóng tinh thần Nghị quyết 15 của Trung ương đến tận cán bộ Đảng viên các cấp và các tầng lớp nhân dân trong toàn Khu chuyển hình thức đấu tranh từ chính trị kết hợp vũ trang tại các địa phương. 

Khi quân Mỹ đổ bộ vào miền Nam tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ” vô cùng ác liệt, Ban Tuyên huấn Khu 5 đã chỉ đạo đưa cán bộ tỏa xuống các địa phương bám dân, bám chiến trường để tuyên truyền vận động nhân dân không sợ Mỹ mạnh, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ. Để phục vụ công tác tuyên truyền, ban đầu, nhà in chỉ có 2 chiếc máy đẩy tay, đầu năm 1963 được miền Bắc chi viện, nhà in đã trở thành nhà in Trung Trung bộ phục vụ in ấn, phát hành của các cơ quan Khu 5. Đặc biệt, tháng 8-1969 khi Đài phát thanh Hà Nội đưa tin về sức khỏe của Bác Hồ, Ban Tuyên huấn đã chỉ đạo nhà in nhanh chóng in hàng vạn bức ảnh Bác Hồ chuyển về tận các cơ sở và các vùng miền núi, làng bản Tây Nguyên cũng như các đơn vị quân đội. Ở một số thành phố, thị xã, cơ sở đã chuyển hàng ngàn tấm ảnh Bác Hồ để đồng bào làm lễ tang tưởng nhớ Bác.

Về báo chí, lúc này Khu 5 có 2 tờ báo, đó là tờ báo Cờ giải phóng Trung Trung bộ và một Tạp chí nội san Tiền phong là tạp chí lý luận, học tập xây dựng Đảng của Khu ủy. Cả 2 tờ báo này đều ra số đầu tiên vào tháng 01-1961. Báo Cờ giải phóng là tiếng nói của Mặt trận dân tộc giải phóng Trung Trung bộ, liên tục phản ánh những tấm gương anh dũng chống Mỹ - Ngụy và phòng trào đấu tranh chính trị của nhân dân từ thành thị đến nông thôn. Báo Cờ giải phóng mỗi tháng phát hành một kỳ, đến năm 1970 mỗi tháng ra hai kỳ với số lượng 6.000 tờ/kỳ. Nội san Tiền Phong mỗi tháng xuất bản một số, mỗi số 4.000 tờ. Nội san Tiền phong đi sâu vào các bài chuyên luận kết hợp giữa lý luận và thực tiễn chiến trường giúp lãnh đạo các cấp có cơ sở lý luận để phân tích thực tiễn diễn biến tình hình cách mạng ở mỗi địa phương. 

Về Thông tấn xã, ban đầu có phóng viên Võ Thế Ái, sau này đến năm 1965 Thông tấn xã Khu 5 có 60 phóng viên đủ các bộ phận chuyên môn nhiếp ảnh, kỹ thuật, và phóng viên thường trú các tỉnh miền Trung. Hằng ngày, thông tấn xã Khu 5 chuyển ra thông tấn xã Việt Nam trên 20 tin bài. 

Cũng như các tiểu ban chuyên môn khác, cán bộ điện ảnh được phân công về các địa phương, bám sát các chiến trường để ghi lại hình ảnh của chiến tranh nhân dân. Năm 1965 quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, đồng chí Trần Đống đã bám sát theo trinh sát vào vùng ven Đà Nẵng ghi lại những hình ảnh quân Mỹ hành quân càn quét vùng nông thôn, đồng chí đã ghi lại được hình ảnh lễ truy điệu sống của dũng sĩ Lê Độ trước lúc anh ôm bom vào thành phố đánh quân Mỹ ở khách sạn Mo-ranh Đà Nẵng; bám sát đặc công ghi lại trận đánh kho xăng Liên Chiểu, thiêu hủy hàng triệu tấn xăng của quân Mỹ. 

Phóng viên điện ảnh Khu 5 trong chống Mỹ đã dũng cảm bám sát chiến trường ghi lại hàng ngàn thước phim tư liệu có giá trị như phim “Những người dân quê tôi” của đạo diễn, quay phim Trần Văn Thủy; phim “Người săn thú trên núi Đắk Sao” của Trần Thế Dân và Ivang năm 1971; phim “Làng nhỏ bên sông Trà” của Nghiêm Phú Mỹ; phim “Chúng tôi buộc phải cầm súng” của đồng tác giả Trần Đống, Trần Thế Dân, Trần Văn Thủy. Những bộ phim tài liệu có giá trị về chiến trường Khu 5 cùng với phim tài liệu, phim truyện từ miền Bắc đưa vào đã được đội chiếu phim lưu động gùi cõng máy móc vượt đèo cao, suối thẳm đến vùng giải phóng, bản làng đồng bào Tây Nguyên, các đơn vị quân giải phóng để chiếu, góp phần củng cố niềm tin con đường tất thắng của cách mạng miền Nam.

Tiểu ban văn nghệ Khu 5 được hình thành giữa năm 1961 với các nhà văn, họa sĩ, nghệ sĩ từ miền Bắc vào như các nhà văn Phan Tứ, Nguyễn Chí Trung, nhà thơ Vương Linh, Thu Bồn, Lưu Trùng Dương, nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, họa sĩ Lý Châu Hoàn, Thế Vinh v.v... Đầu năm 1962, Tạp chí Văn Nghệ được xuất bản, mỗi số 4.000 bản được phát hành đến tận cơ sở. Để mở rộng mặt trận văn nghệ chống Mỹ, Ban chủ trương tập hợp các văn nghệ sĩ yêu nước chống Mỹ trong vùng địch kiểm soát, nhất là các thành phố lớn và văn nghệ sĩ là người dân tộc Tây Nguyên. Mặc dù gặp địch đánh phá và bao khó khăn về điều kiện đi lại ăn ở, Ban đã kiến nghị Thường vụ Khu ủy mở đại hội văn nghệ. Đại hội diễn ra tại căn cứ cách mạng Trà My với gần 300 người là các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nghệ sĩ. Nhiều người đến từ các thành phố thị xã và buôn làng Tây nguyên. Sau Đại hội trong vùng địch kiểm soát đã xuất hiện nhiều tờ báo với các tác phẩm văn nghệ yêu nước, yêu hòa bình, phản đối cuộc  chiến tranh xâm lược của Mỹ - Ngụy.

Văn nghệ Khu 5 đã tập hợp được một lực lượng sáng tác đầy tài năng. Phan Tứ viết tiểu thuyết "Gia Đình Má Bảy" và "Mẫn và Tôi", Thu Bồn có "Trường Ca Chim Chơ Rao"... Các họa sĩ Thế Vinh, Lý Châu Hoàn, Hà Xuân Phong, Trần Việt Sơn, Hồng Chính Hiền, Giang Nguyên Thái có nhiều ký họa chân thực cảm động về đồng bào chiến sĩ Khu 5 thời đánh Mỹ… Văn nghệ sĩ Khu 5 dũng cảm bám dân bám chiến trường, nhiều đồng chí đã hy sinh như nhà văn Chu Cẩm Phong, Dương Thị Xuân Quý, nghệ sĩ múa Phương Thảo, nhà thơ Nguyễn Mỹ,...

Tiểu ban tuyền truyền được xem như lực lượng xung kích bám sát các địa phương tuyên truyền đường lối cách mạng. Kết hợp với Tiểu ban văn nghệ sáng tác ca dao, hò vè, truyền đơn in ấn phát hành đến các địa phương. Phương tiện của công tác tuyên truyền trong chiến tranh chủ yếu tuyên truyền miệng. Vì vậy, cán bộ tuyên truyền phải bám sát dân, đến từng người dân để tuyên truyền, thuyết phục họ có ý chí hướng theo cách mạng. Đồng thời cũng là nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch kiểm soát.

Ngoài ra, các tiểu ban khác của Ban Tuyên huấn Khu 5 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đối với Tiểu ban Huấn học do đồng chí Trương Công Huấn phụ trách đã giúp Ban Tuyên huấn trong việc mở trường Đảng, tuyên truyền giáo dục cán bộ trong toàn khu. Tiểu ban giáo dục có nhiệm vụ tập trung xóa nạn mù chữ và có kế hoạch đào tạo cán bộ để phát triển ngành giáo dục trong thời chiến ở Khu 5. Tiểu ban hậu cần chịu trách nhiệm đảm bảo lương thực, thuốc men phục vụ chiến trường.

Trong cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân 1975, Ban Tuyên huấn Khu 5 đã tập trung lực lượng phóng viên, điện ảnh, tuyên truyền bám sát các đơn vị quân đội, giải phóng đến đâu phối hợp với địa phương tiếp quản đến đó, tuyên truyền, thành lập chính quyền cơ sở để nhanh chóng ổn định tình hình. Tin tức thắng lợi giải phóng Tây Nguyên ngày đêm liên tục phát ra Hà Nội loan truyền khắp thế giới.

Đối với thành phố Đà Nẵng, một vị trí trọng yếu được Thường vụ Khu ủy giao Ban Tuyến huấn Khu tổ chức lực lượng nhanh chóng tiếp quản cơ sở thông tin, đài phát thanh sau khi được giải phóng để tuyên truyền thông báo chính sách hòa hợp dân tộc cũng như nhanh chóng làm tan rã các tổ chức chống phá cách mạng, với hơn mười vạn sĩ quan binh lính Ngụy và các đảng phái phản động bị quân giải phóng bao vây đang lẩn tránh trong thành phố và núi Sơn Trà.

Trưa 29/3-/1975 thành phố Đà Nẵng được giải phóng cũng là lúc cán bộ Tuyên huấn Khu đã có mặt tiếp quản Nha thông tin, Đài phát thanh, cán bộ Tuyên huấn Khu 5 kết hợp với cán bộ địa phương sử dụng các phương tiện thông tin của địch tuyền truyền ổn định tình hình trật tự trong thành phố. Riêng Đài phát thanh, chiều 29-3-1975 đã được tiếp quản sử dụng nhân viên kỹ thuật của chế độ cũ ở lại thực hiện tiếp sóng Đài giải phóng và đúng 10 giờ ngày 30-3-1975 buổi phát thanh đầu tiên của Ủy Ban quân quản thành phố Đà Nẵng được cất lên. 

Sau giải phóng, thực hiện Nghị quyết số 245-NQ/TW ngày 20-9-1975 về việc bỏ khu, hợp nhất tỉnh, Ban Tuyên huấn Khu 5 giải thể sau khi đã hoàn thành sứ mệnh vẻ vang của mình. Kết thúc chiến tranh tháng 4-1975, Ban Tuyên huấn khu 5 có 1.098 cán bộ, trong đó 128 đồng chí đã hy sinh trên chiến trường, 193 đồng chí bị thương, 19 đồng chí bị nhiễm chất độc da cam, đến nay có gần 70 đồng chí qua đời. 

Với những thành tích đã đạt được, Ban Tuyên huấn Khu 5, vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đây là một vinh dự cho những người đang sống, một sự động viên, an ủi cho những người đã khuất./.

Lê Năng Đông - Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Liên kết website

Mới nhất