Hành động để cải thiện chỉ số về suy dinh dưỡng ở trẻ em
Cho trẻ uống vitamin A tại lễ phát động Vi chất dinh dưỡng (1-2/6/2019).

TỶ LỆ SUY DINH DƯỠNG, THẤP CÒI CAO

Những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể về cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho người dân như tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em đã giảm nhanh và bền vững (suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm từ 30,1% năm 2000 xuống còn 14,1% năm 2015 và năm 2016 tỷ lệ SDD nhẹ cân ở trẻ dưới 5 tuổi là 13,8%). Việt Nam cũng đã thanh toán được tình trạng mù lòa do thiếu vitamin A; tình trạng thiếu vitamin A huyết thanh, thiếu máu do thiếu sắt và thiếu các VCDD khác ngày càng được cải thiện; kiến thức, thực hành dinh dưỡng đúng của người dân ngày càng được nâng cao….

Tuy vậy, Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với những thách thức như: tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi (chiều cao theo tuổi) ở trẻ em dưới 5 tuổi mỗi năm giảm 1%, nhưng vẫn còn ở mức cao (24,3% năm 2016) và có sự chênh lệch giữa các vùng nhất là vùng núi, vùng khó khăn và nông thôn với thành phố, đồng bằng. Cụ thể, tỷ lệ này ở miền núi phía Bắc là 30,3% và Tây Nguyên là 34,2%.

Suy dinh dưỡng thấp còi và thiếu vi chất dinh dưỡng là những nguyên nhân chính dẫn tới chiều cao thấp ở thanh niên Việt Nam. Ngoài ra, thiếu vi chất dinh dưỡng còn ảnh hưởng xấu tới sức khỏe, tới sự phát triển thể lực, tầm vóc, trí tuệ, cản trở sự tăng trưởng và phát triển toàn diện của trẻ em và khả năng sinh sản cũng như năng suất lao động của người lớn.

 Theo Báo cáo Tình trạng trẻ em toàn cầu năm 2019, khung hành động cải thiện dinh dưỡng bà mẹ và thực hành cho trẻ ăn bổ sung ở Việt Nam của UNICEF, ở Việt Nam, phụ nữ và trẻ nhỏ đang chịu nhiều gánh nặng về suy dinh dưỡng. Cụ thể là, hiện có tới 10,3% phụ nữ bị nhẹ cân; 23,9% có tầm vóc thấp bé; 25,5% thiếu máu; 9,8%  chị em bị thừa cân hoặc béo phì. Trong thời kỳ mang thai và cho con bú, nhu cầu dinh dưỡng của người mẹ tăng lên đáng kể dẫn tới 33% bị thiếu máu, 80% bị thiếu kẽm… Những phụ nữ khi mang thai mà nhẹ cân hoặc thiếu hụt chất dinh dưỡng, các em bé sinh ra có nguy cơ tử vong cao hơn, dễ mắc bệnh, bị thấp còi, suy giảm trí tuệ và sau này dễ mắc các bệnh tiểu đường, cao huyết áp, tim mạch,…

Còn đối với trẻ em, tình trạng suy dinh dưỡng, thấp còi tăng cao nhanh chóng khi trẻ đến giai đoạn 6 tháng tuổi. Do lúc này sữa mẹ không thể cung cấp đủ nhu cầu năng lượng, protein, vitamin, khoáng chất. Trong khi đó việc cho trẻ ăn bổ sung lại không được chú ý đầy đủ hoặc thực hiện không hợp lý,… kết quả là có tới 23,85 trẻ em Việt Nam dưới 5 tuổi bị thấp còi; 5,8% gầy còm; 28% thiếu máu; 5,9,% trẻ bị thừa cân… Đại diện UNICEF cho rằng, mức độ suy dinh dưỡng, thấp còi của trẻ em Việt Nam hiện đang có tỷ lệ cao hơn nhiều quốc gia châu Phi và thế giới

Theo PGS. TS.Nguyễn Xuân Ninh, Phó Viện trưởng Viện Y học ứng dụng Việt Nam học sinh tuổi học đường đang chịu gánh nặng kép về suy dinh dưỡng thấp còi và thừa cân béo phì. Thiếu vitamin A, thiếu máu do thiếu sắt, thiếu kẽm, thiếu iode rất phổ biến ở trẻ em học đường, là những yếu tố nguy cơ liên quan với tăng trưởng chiều cao chậm, suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ học đường, trẻ vị thành niên cũng như người trưởng thành Việt Nam.

ĐẦU TƯ 1 ĐÔ LA THU LẠI 18 ĐÔ LA

Các chuyên gia khuyến cáo, việc đảm bảo cho người mẹ được cung cấp dinh dưỡng một cách hợp lý là điều rất quan trọng cho sức khỏe và tinh thần của chính họ và con cái của họ. Đồng thời cần có hành động để cải thiện tình trạng cho trẻ ăn bổ sung để giải quyết tình trạng thấp còi và đảm bảo rằng tất cả trẻ em Việt Nam có thể phát triển một cách tối ưu.

Bà Rana Flowers, Trưởng đại diện của UNICEF tại Việt Nam cho biết, báo cáo của UNICEF năm nay đưa ra góc nhìn mới mẻ về tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em toàn cầu, đồng thời đề xuất các giải pháp tập trung ưu tiên dinh dưỡng cho trẻ để phát triển nguồn vốn con người (cả về thể chất và tinh thần). Theo đại diện UNICEF, thực tế cho thấy, nếu chúng ta chỉ cần đầu tư 1 USD chi phí dinh dưỡng cho trẻ trong 1.000 ngày đầu đời thì tương lai chúng ta sẽ thu lại được 18 USD. Ngược lại, không được đảm bảo dinh dưỡng, thì ngay từ tấm bé, trẻ đã bị ảnh hưởng tiêu cực về sức khỏe, thể chất, học lực,… còn hệ lụy về sau là năng suất lao động kém, dễ mắc bệnh tật, nghỉ hưu sớm, tuổi thọ thấp… Và dinh dưỡng cho trẻ chính là “viên đạn thần kỳ” để thúc đẩy sự phát triển bền vững trong tương lai.

Cần phải có những giải pháp thiết thực, tổng thể cả về truyền thông, xây dựng chính sách, bảo đảm nguồn tài chính, nhân lực; cũng như thúc đẩy sản xuất thực phẩm giàu dinh dưỡng, kiểm soát các thực phẩm không lành mạnh để cải thiện tình trạng này trong thời gian tới.

Tại Hội nghị công bố báo cáo Tình trạng trẻ em toàn cầu năm 2019, khung hành động cải thiện dinh dưỡng bà mẹ và thực hành cho trẻ ăn bổ sung ở Việt Nam của UNICEF phối hợp Bộ Y tế Việt Nam tổ chức ngày 16/10, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam khẳng định, công tác đảm bảo dinh dưỡng đối với bà mẹ, trẻ em được Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm. Việt Nam đã tham gia nhiều cam kết quốc tế, cũng như ban hành và thực hiện hiệu quả nhiều chính sách, chương trình, đề án về công tác này. Tuy nhiên, trong thực tế việc bảo đảm dinh dưỡng cho trẻ em vẫn còn nhiều vấn đề cần được cải thiện (cả về mặt nhận thức của người dân, xây dựng chính sách,…) trong thời gian tới. Ông cho rằng, trước hết cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho người dân về dinh dưỡng. Việc tuyên truyền phải dựa trên các kết quả nghiên cứu khoa học, đồng thời cũng phải có cách làm gần gũi, dễ hiểu để người dân dễ tiếp thu và thay đổi những hành vi bất hợp lý của mình.

Trong một Hội nghị về “Cải thiện tình trạng dinh dưỡng thông qua bữa ăn học đường của trẻ em” tổ chức hồi đầu tháng 8, PGS. TS Nguyễn Thị Xuyên, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế cũng đã nhấn mạnh, dinh dưỡng hợp lý rất quan trọng đối với sự tăng trưởng và kiểm soát sức khỏe, bệnh tật trong chu kỳ vòng đời. Bữa ăn học đường chiếm một phần quan trọng trong khẩu phần ăn thực tế hàng ngày của trẻ. Tuy nhiên cho đến nay còn một số hạn chế bao gồm chưa có các danh mục thực phẩm cung cấp năng lượng, các vi chất thiết yếu cho từng nhóm tuổi, cho từng mùa. Vì vậy cho đến thời điểm này các thực phẩm, món ăn được đưa vào bữa ăn học đường chủ yếu mang tính cảm tính, chưa dựa trên các cơ sở khoa học dinh dưỡng.

PGS. TS. Lê Bạch Mai, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết, khẩu phần ăn của học sinh tiểu học hiện nay đáp ứng cao hơn nhu cầu khuyến nghị về năng lượng và protein, trong khi đó khẩu phần ăn của học sinh trung học cơ sở lại chưa đạt so với nhu cầu khuyến nghị về năng lượng, mức khẩu phần canxi, sắt, kẽm, vitamin A, vitamin nhóm B và vitamin C. Vì vậy, chế độ ăn cần quan tâm đến bữa ăn học đường, tăng cường rau quả, chất xơ, các thực phẩm giàu vi chất dinh dưỡng hoặc thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng để nâng cao chất lượng bữa ăn. Bên cạnh đó, hoạt động truyền thông giáo dục và phòng chống suy dinh dưỡng ở vùng nông thôn và thừa cân béo phì tại thành thị cần được đẩy mạnh nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng và tầm vóc cho học sinh. Các can thiệp cần ưu tiên cho giải quyết gánh nặng kép về dinh dưỡng và đặc thù cho từng vùng.

Hiện nay, Viện Dinh dưỡng khuyến nghị sử dụng đa dạng, phối hợp nhiều loại thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày; khuyến khích lựa chọn và sử dụng thực phẩm có tăng cường vi chất dinh dưỡng. Người dân nên lưu ý lựa chọn các thực phẩm có tăng cường vi chất dinh dưỡng trong bữa ăn hàng ngày như muối tăng cường I ốt, bột mỳ tăng cường sắt kẽm hoặc các thực phẩm có thành phần nguyên liệu có tăng cường vi chất dinh dưỡng này, dầu ăn tăng cường vitamin A.

Với các cháu được uống sữa theo chương trình sữa học đường, sử dụng sữa tăng cường đa vi chất sẽ có lợi hơn cho sự tăng trưởng và phát triển. Loại và hàm lượng các vi chất dinh dưỡng tăng cường vào sữa học đường theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới và phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng lứa tuổi trong bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam (2017).

Để phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng:

  1. Sử dụng đa dạng, phối hợp nhiều loại thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày; khuyến khích lựa chọn thực phẩm có tăng cường vi chất dinh dưỡng.
  2. Cho trẻ bú sớm, nuôi trẻ hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho trẻ bú sữa mẹ đến 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn.
  3. Sử dụng các thực phẩm giàu vi chất dinh dưỡng cho bữa ăn bổ sung của trẻ. Thêm mỡ hoặc dầu để tăng hấp thu Vitamin A, Vitamin D.
  4. Cho trẻ trong độ tuổi uống Vitamin A liều cao 2 lần/ năm, bà mẹ sau sinh trong vòng một tháng uống một liều Vitamin A.
  5. Trẻ từ 24 đến 60 tháng tuổi uống thuốc tẩy giun 2 lần/ năm. Thực hiện vệ sinh ăn uống, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường phòng chống nhiễm giun.
  6. Phụ nữ tuổi sinh đẻ, phụ nữ có thai cần uống viên sắt/axit folic hoặc viên đa vi chất theo hướng dẫn.
 

Phong Duy

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website

Xem nhiều nhất