"Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế"
TS. Trần Doãn Tiến, Tổng Biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam phát biểu đề dẫn tại Hội thảo. (Ảnh: TA)

Dự và chủ trì Hội thảo có các đồng chí: Lại Xuân Môn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; Lê Văn Châu, Phó Bí thư Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương; Trần Doãn Tiến, Tổng Biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tham dự Hội thảo còn có các đồng chí: Võ Tuấn Nhân, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; Triệu Thế Hùng, Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương; Đỗ Tiến Đông, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Gia Lai; các đồng chí lãnh đạo một số bộ, ban, ngành, tỉnh, thành phố; các học viện, trường đại học; đại diện một số doanh nghiệp, Tập đoàn kinh tế; các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý…trong lĩnh vực kinh tế…

TẬN DỤNG MỌI NGUỒN LỰC, NHÂN TÀI ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẤT NƯỚC

Phát biểu đề dẫn Hội thảo, TS. Trần Doãn Tiến, Tổng Biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ, ngày 15/1/2019, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị “về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế”. Nghị quyết đã chỉ rõ những kết quả chủ yếu, hạn chế, bất cập và nguyên nhân trong quản lý, khai thác, huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế. Nghị quyết khẳng định rõ quan điểm chỉ đạo của Đảng trong việc quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của đất nước, trong đó đa dạng hóa các hình thức huy động và sử dụng nguồn lực, thúc đẩy xã hội hóa, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước; áp dụng nguyên tắc thị trường trong quản lý, khai thác, sử dụng các nguồn lực phát triển; đẩy mạnh kinh tế hóa nguồn vật lực; tập trung khai thác tối đa tiềm năng khoa học và công nghệ cho phát triển kinh tế - xã hội; tránh xảy ra thất thoát, lãng phí, cạn kiệt nguồn lực của đất nước và hủy hoại môi trường; đồng thời chỉ đạo về công tác kiểm kê, đánh giá các nguồn lực của nền kinh tế...

Nghị quyết đặt ra mục tiêu: “Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, tiến tới trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Đặc biệt, Nghị quyết đã đề ra mục tiêu cụ thể đối với từng nguồn lực. Đó là: Đến năm 2025, hoàn thiện đồng bộ hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, công cụ thúc đẩy quản lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản phù hợp với thực tế quy mô và hiệu quả đầu tư. Đến năm 2035, phát triển các công cụ điều tiết thị trường quyền sử dụng đất, bảo đảm khoảng 99% diện tích đất tự nhiên được đưa vào khai thác, sử dụng. Kiểm soát tình hình ô nhiễm nguồn nước; phục hồi 25% diện tích hệ sinh thái tự nhiên bị suy thoái. Hoàn thiện hệ thống mạng quan trắc tài nguyên, môi trường quốc gia theo hướng tự động hoá. Hoàn thành việc xây dựng đồng bộ cơ sở dữ liệu ngành tài nguyên, môi trường và hệ thống thông tin giám sát tài nguyên quốc gia. Bảo đảm hệ thống cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại, kết nối thuận tiện, nhanh chóng đến các vùng, miền trong cả nước, khu vực và với quốc tế. Đến năm 2045, chủ động ngăn ngừa, hạn chế tình trạng suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên. Hoàn thiện cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, kết nối thông suốt trong nước với quốc tế, ngang bằng với các nước phát triển...

Quang cảnh Hội thảo. (Ảnh: TA)

Quang cảnh Hội thảo. (Ảnh: TA)

TS. Trần Doãn Tiến khẳng định, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng đã chỉ rõ: Đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập; phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh; có chính sách hỗ trợ hiệu quả doanh nghiệp trong nông nghiệp; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật về bảo hộ sở hữu trí tuệ và giải quyết các tranh chấp dân sự, khắc phục những điểm nghẽn cản trở sự phát triển của đất nước.

Sau gần 3 năm thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW và gần 1 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cả nước đã vượt qua khó khăn thách thức, đạt được một số kết quả có tính đột phá, có ý nghĩa quan trọng góp phần vào thành tựu chung thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh nâng cao đời sống nhân dân…

Tuy nhiên, việc quản lý, khai thác, sử dụng, phát huy các nguồn lực hiện còn tồn tại, hạn chế. Những bất cập đã được Nghị quyết số 39-NQ/TW và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra mới được khắc phục bước đầu. Đó là việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực ở một số lĩnh vực chưa hợp lý, hiệu quả chưa cao, gây lãng phí và làm cạn kiệt nguồn lực của đất nước. Chất lượng nguồn nhân lực nhìn chung còn thấp, cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo còn bất hợp lý, thiếu hụt nhân lực là kỹ sư thực hành, công nhân kỹ thuật bậc cao, trình độ ngoại ngữ hạn chế, thiếu các kỹ năng mềm. Kết nối cung - cầu trên thị trường lao động còn nhiều bất cập. Năng suất lao động thấp so với các nước trong khu vực. Việc quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên chưa hiệu quả. Diện tích đất sử dụng kém hiệu quả hoặc chưa sử dụng còn lớn; một số địa phương buông lỏng quản lý dẫn đến tình trạng đất bị hoang hoá, bị lấn chiếm, tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và gây thất thu ngân sách nhà nước. Nợ xấu tuy đã được xử lý một bước quan trọng nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro đối với an toàn, hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng.…

Hội thảo là dịp để trao đổi, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW, từ đó nâng cao hơn nữa nhận thức về việc quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, cải thiện đời sống Nhân dân. Qua hội thảo, xác định rõ nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp đặt ra đối với việc thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 39 và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong tình hình mới...

6 NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM, 3 ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC

Ban Tổ chức đã nhận được gần 50 bài tham luận khoa học của các bộ, ngành, tỉnh, thành phố, các tập đoàn, tổng công ty, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, … như: Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Tài nguyên và Môi trường; thành phố Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh: Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hải Dương, Hòa Bình, Quảng Ninh, Bạc Liêu, Bà Rịa – Vũng Tầu,… Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam; Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Than và Khoáng sản, Tập đoàn Dệt may; Tập đoàn FPT…; của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu ở một số cơ quan, trường Đại học như: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh…

Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Tuấn Nhân phát biểu tham luận tại Hội thảo. (Ảnh: TA)

Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Tuấn Nhân phát biểu tham luận tại Hội thảo. (Ảnh: TA)

Đặc biệt là một số thành viên là các chuyên gia nghiên cứu kinh tế hàng đầu của Việt Nam đã tích cực hưởng ứng chủ đề Hội thảo và có bài tham luận, kiến giải và đề xuất nhiều giải pháp hàm chứa cả lý luận và thực tiễn phong phú nhằm quản lý, khai thác, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế trong thời gian tới.

Tổng biên tập Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đề nghị, các đại biểu tham luận, đóng góp ý kiến tập trung vào những nội dung cốt lõi như: Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế; Thực trạng của việc nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế; Nhiệm vụ, giải pháp tăng cường việc nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế, nhằm phát triển nhanh và bền vững, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.

Ban Tổ chức Hội thảo rất mong các tác giả phát biểu trực tiếp, trọng tâm vào những nội dung cốt lõi của Nghị quyết 39 của Bộ Chính trị khóa XII gắn với Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về phát triển kinh tế. Trong đó đề cập đến quan điểm; mục tiêu tổng quát; mục tiêu cụ thể các giai đoạn đến năm 2045 và đặc biệt gắn với 6 nhiệm vụ trọng tâm; cùng 3 đột phá chiến lược, đó là hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội.

Cụ thể là, thứ nhất, trong bối cảnh mới, nhất là đại dịch COVID-19 đang đặt ra những thách thức to lớn, khó khăn, chưa có tiền lệ, đòi hỏi phương cách xử trí như thế nào trong việc quản lý, khai thác, sử dụng, phát huy các nguồn lực vượt qua khó khăn để phát triển kinh tế? Chúng ta cần phải có quan điểm thay đổi những gì để thích ứng với những vấn đề đặt ra cấp bách hiện nay trong phát triển?

Các đại biểu tham dự Hội thảo. (Ảnh: TA)

Các đại biểu tham dự Hội thảo. (Ảnh: TA)

Thứ hai, cần thực hiện các giải pháp chung, giải pháp cụ thể có tính đột phá như thế nào nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực cho các giai đoạn phát triển của nền kinh tế?

Thứ ba, những giải pháp trong việc rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản luật, dưới luật, xây dựng cơ chế, chính sách có liên quan tới việc quản lý, khai thác, sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế cần được triển khai cụ thể như thế nào?” - TS. Trần Doãn Tiến đặt vấn đề.

Thứ tư, các giải pháp phát huy nguồn lực kinh tế gắn với quan điểm 3 đột phá chiến lược của Nghị quyết Đại hội XIII: hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội được giải quyết như thế nào?

Thứ năm, các bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao cụ thể hoá các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Nghị quyết như thế nào? Nhất là việc xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình hành động, đề án nhằm quản lý, khai thác, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực chung của đất nước cũng như của từng bộ, ngành, địa phương? Kiến nghị và đề xuất?

Đồng chí TS, Trần Doãn Tiến khẳng định: Kết quả Hội thảo sẽ là cơ sở khoa học, thực tiễn quan trọng để Ban Tuyên giáo Trung ương tiếp tục chỉ đạo, định hướng trong công tác tuyên truyền về kinh tế. Đồng thời báo cáo thường trực Ban Bí thư về những vấn đề về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế. Đây cũng là sản phẩm khoa học để các bộ, ngành, tỉnh, thành phố, các tập đoàn, tổng công ty, các trường đại học… tham khảo, nghiên cứu trong quá trình chỉ đạo, tổ chức, thực hiện.

Gần 50 tham luận được gửi đến và trình bày tại Hội thảo tập trung đi sâu phân tích những điểm mới về mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng; vai trò của việc hoàn thiện đồng bộ hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, công cụ thúc đẩy nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế. Các tham luận nhấn mạnh đến việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phương thức chủ yếu để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển của đất nước.

Các tham luận phân tích vai trò của giáo dục và đào tạo đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế. Trong đó nhấn mạnh phải tuyên truyền sâu rộng, nâng cao nhận thức, thực hiện tốt chủ trương coi giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng và sử dụng có hiệu quả “nhân tài”, tập trung thu hút “người tài từ nước ngoài”. Đồng thời kiểm soát tốt quyền lực, đề cao trách nhiệm giải trình và đạo đức công vụ. Xây dựng và thực thi nghiêm các chế tài đủ mạnh nhằm ngăn chặn hành vi cửa quyền, độc quyền; cơ chế xin - cho; lợi ích nhóm; đẩy lùi tham nhũng, góp phần củng cố lòng tin của các nhà đầu tư, doanh nghiệp và toàn xã hội.

Đồng thời tập trung vào vấn đề sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách để khơi thông, giải phóng tối đa và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và phát triển bền vững của nền kinh tế. Trong đó nhấn mạnh đến việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, trong đó nguồn lực bên trong, nhất là khu vực kinh tế tư nhân trong nước là chiến lược, cơ bản, lâu dài, quyết định, kết hợp chặt chẽ với thu hút nguồn lực đầu tư nước ngoài theo hướng có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao và có giá trị gia tăng cao là quan trọng, đột phá.

Các tham luận đề cập đến vai trò của việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chia sẻ thông tin về các nguồn lực trong nền kinh tế để sử dụng tối ưu và hiêụ quả; nhấn mạnh đến phương pháp quản lý hiện đại trong tổ chức xây dựng, quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế - xã hội; phân phối, chia sẻ và tái sử dụng có hiệu quả các nguồn lực dư thừa, làm gia tăng giá trị các nguồn lực của nền kinh tế.

Mặt khác, các tham luận lưu ý đến vấn đề cơ cấu lại nền kinh tế, ngành, vùng và sản phẩm chủ yếu theo hướng hiện đại, phát huy lợi thế so sánh và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tập trung các nguồn lực phát triển những sản phẩm có lợi thế so sánh, sức cạnh tranh, giá trị gia tăng cao và có thị trường tiêu thụ. Đổi mới cơ cấu thành phần kinh tế theo hướng bảo đảm cạnh tranh công bằng, bình đẳng, tôn trọng tính phổ biến hơn là nhấn mạnh tính đặc thù; định vị vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước tập trung vào định hướng, dẫn dắt và thực hiện những dịch vụ công, đầu tư các dự án trọng điểm quốc gia mà các thành phần kinh tế khác không đủ năng lực hoặc không có nhu cầu đầu tư…/.

Nhật Minh

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website

Xem nhiều nhất