Người về mang tới niềm vui độc lập, tự do và thống nhất đất nước

 Khát vọng ngàn đời của mỗi quốc gia, dân tộc và cộng đồng thế giới

Độc lập, tự do và thống nhất không chỉ là khát vọng ngàn đời của mỗi một quốc gia, dân tộc, đó còn là quyền thiêng liêng nhất, là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia, dân tộc đó trong cộng đồng thế giới. Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã viết lên những trang hào hùng chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược. Song lịch sử cũng ghi nhận rằng, thất bại của phong trào đấu tranh yêu nước, của cuộc khởi nghĩa nông dân do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo và những phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc theo khuynh hướng tư sản trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã cho thấy: độc lập và thống nhất dù là quyền dân tộc cơ bản của mỗi quốc gia, song không phải là “lộc trời”, không thể thực hiện được bởi “một tối một sáng”[1], và càng không thể giành được nếu thiếu một đường lối đúng đắn do một tổ chức chính trị tiền phong lãnh đạo.

Đại diện cho khát vọng thiêng liêng, cao cả đó của mỗi người dân, mỗi gia đình và cả những người Việt Nam yêu nước đang sống xa Tổ quốc là Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Rời Tổ quốc ngày 5/6/1911- khởi đầu cho một hành trình đi đúng và đi tới đích, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã từ một người yêu nước, trở thành một người cộng sản, và xuyên suốt trong hành trình hoạt động cách mạng của Người là hoài bão, là ý chí phấn đấu vì một nước Việt Nam độc lập, hoà bình và thống nhất.

Đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân là mục tiêu phấn đấu, xuyên suốt và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời được thể hiện rõ trong mọi thời điểm và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Tháng 12/1920, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp, cùng với quyết định chính xác khi bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ III do Lênin sáng lập, Nguyễn Ái Quốc đã từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản. Giản dị và ngắn gọn cho quyết định chính xác của mình khi được hỏi tại sao lại bỏ phiếu như vậy, Người trả lời: “Rất giản đơn. Tôi không hiểu chị nói thế nào là chiến lược, chiến thuật vô sản và nhiều điểm khác. Nhưng tôi hiểu rõ một điều: Quốc tế III rất chú ý đến vấn đề thuộc địa… Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”[2]. Sau đó, năm 1922, khi gặp Anbe Xarô- Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại, Nguyễn Ái Quốc cũng khẳng định nhất quán: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”[3]. Và không chỉ dừng lại ở lời nói, ở những bài viết đăng trên các báo, các tạp chí thời kỳ này, Hồ Chí Minh đã nỗ lực hoạt động và đấu tranh trong Đảng Cộng sản Pháp, tại Quốc tế Cộng sản và trên nhiều lĩnh vực khác để thực hiện mục đích lớn lao của cuộc đời mình, đó là: “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”[4] được ghi rõ trong văn kiện của Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam mùa xuân năm 1930.

Và 11 năm sau kể từ ngày sáng lập Đảng, vượt qua những thăng trầm và thử thách, kể cả sự hồ nghi, ngày 28 /1/1941, Hồ Chí Minh đã trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước. Cùng với việc kịp thời triệu tập, chủ trì Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng, tháng 5/1941, chuyển hướng chiến lược cách mạng, đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thành lập Mặt trận Việt Minh, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ,v.v..từ đây, khát vọng của Người về độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do, hạnh phúc cho đồng bào tôi, sẽ được truyền đến đồng bào và chiến sĩ cả nước mỗi dịp Xuân về, Tết đến. Những tri thức, những bài học kinh nghiệm tích luỹ được trong hành trình vạn dặm tìm đường cứu nước của Người sẽ được vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, sẽ nâng nguồn sức mạnh của sự thống nhất về tư tưởng, của nội lực đoàn kết và niềm tin tưởng cảu cả dân tộc vào một tương lai tươi sáng, đó là Độc lập dân tộc và CNXH.

Hồ Chí Minh truyền khát vọng độc lập, tự do và thống nhất qua thơ chúc Tết

Không có gì quý hơn độc lập, tự do - chân lý của thời đại đã được Hồ Chí Minh tin tưởng, vì “mục đích đó là chính nghĩa”. Người đã khát khao, đã tin tưởng, đã viết như vậy trong những bài thơ chúc Tết đầu xuân, kể từ khi Người trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước. Thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiếng lòng của “thi sĩ Hồ Chí Minh”. Người từng nhiều lần nói rằng: mình không phải là nhà thơ, nhưng cũng như nhiều bậc tiền bối trong lịch sử, Hồ Chí Minh đúng là Người như cụ Bùi Bằng Đoàn viết (năm 1948): “Biết Người việc nước không hề rảnh, Vung bút thành thơ đuổi giặc thù”.

Trong sáng, giản dị và hấp dẫn lạ thường, hấp dẫn người biết chữ và cả đồng bào chưa từng biết chữ, Thơ chúc Tết của Hồ Chí Minh (bài đầu tiên viết nhân dịp Tết năm 1942 và bài cuối cùng viết Tết năm 1969), thực sự là quá trình truyền khát vọng độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc đến đồng bào và chiến sĩ cả nước. Xuyên suốt và nhất quán trong những bài thơ chúc Tết ấy là lời giục giã, là nhạc điệu của non sông và câu kết trong mỗi bài luôn thể hiện khát vọng về một nước Việt Nam độc lập và thống nhất: “Việt Nam độc lập muôn năm”- 1946; “Thống nhất độc lập, nhất định thành công”- 1947; “Thống nhất chắc chắc chắn được, Độc lập quyết thành công”- 1948; “Hoà bình, thống nhất thành công”- 1956; “Thống nhất nước nhà thắng lợi”- 1959; “Thống nhất nước nhà, Bắc Nam vui vẻ!”- 1960; “Chúc hoà bình thống nhất thành công!”- 1961; “Rồi đây thống nhất thành công, Bắc Nam ta lại vui trong một nhà”- 1964; “Hoà bình thống nhất ắt hẳn thành công”- 1965; “Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào, Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn”- 1969, v,v..

Hơn cả mọi lời chúc, hàm chứa giá trị tư tưởng lớn lao của một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng, thơ chúc Tết của Hồ Chí Minh là lời người Cha già dân tộc, là lời của non nước truyền đến đồng bào và chiến sĩ cả nước nguồn sức mạnh trong thời khắc thiêng liêng, đất trời chuyển giao từ năm cũ sang năm mới. Những bài thơ đó có những nét rất độc đáo, nói như đồng chí Trường Chinh là: Nội dung khảng khái, thấm thía, đi sâu vào tình cảm con người, chinh phục cả trái tim và khối óc con người, bởi “hình ảnh sinh động, giản dị, dễ hiểu, giàu tình dân tộc và tính nhân văn”[5]. Trong bài thơ chúc Tết đầu tiên Người viết năm 1942, đăng trên báo Việt Nam độc lập, lời mừng xuân mới của Người đồng thời cũng là “nhiệm vụ của cách mạng” cô đúc lại trong những câu thơ vừa là lời chúc, vừa là lời kêu gọi, để chuyển đến quần chúng nhân dân khát vọng:

“Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!

Chúc Việt minh ta càng tiến tới,

Chúc toàn quân ta trong năm này

Cờ đỏ ngôi sao bay phấp phới!

Năm này là năm Tết vẻ vang,

Cách mệnh thành công khắp thế giới”[6].

Theo lời hiệu triệu của Người, của hồn thiêng sông núi, toàn quốc đồng bào đã đoàn kết, vùng lên Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thành công. Song nền độc lập, tự do vừa giành được đã bị dã tâm xâm lược của phái thực dân Pháp phản động phá hoại. Hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) của Người, cả nước đồng lòng bước vào cuộc trường chinh đầy gian khổ. Và trong Tết độc lập đầu tiên- lại cũng là những ngày đầu gian lao kháng chiến, đồng bào và chiến sĩ cả nước vừa vui mừng chờ đón tiếng pháo mừng xuân, vừa nén lòng, hồi hộp lắng nghe thơ chúc Tết của Người. Cũng vẫn là một Hồ Chí Minh đầy bản lĩnh và kiên cường cách mạng, truyền đến đồng bào cả nước niềm tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến qua bài thơ chúc Tết xuân Bính Tuất 1946: “Tết này ta tạm xa nhau. Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy”.

Chiến tranh ngày càng lan rộng, Tết năm Đinh Hợi 1947, mặc dù so sánh lực lượng giữa ta và địch còn chênh lệch, nhưng với niềm tin tất thắng, Hồ Chí Minh vẫn chúc mừng xuân mới bằng bài thơ chúc Tết đọc ở ngôi chùa Trầm. Tràn đầy cảm hứng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mang âm hưởng giục giã, động viên toàn dân tham gia kháng chiến, lời thơ chúc Tết xuân 1947 cũng đặc sắc như con người thi sĩ Hồ Chí Minh. Đó là lời khẳng định, tràn đầy sự tin tưởng, mang cảm hứng lịch sử sâu sắc về thế đi lên của dân tộc, thế của chính nghĩa và chiến thắng:

“Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió

Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông

Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.

Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!

Sức ta đã mạnh, người ta đã đông

Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi”[7].

Dù là lời kêu gọi, là lời động viên chính trị, nhưng không hề khô khan, bài thơ mừng xuân 1947được kết bằng khẩu hiệu “Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi”, nhưng vẫn “dội vang trong nhịp điệu hào hùng và bay lên trong cảm hứng lãng mạn của lời tiên tri cách mạng”[8]. Vẫn cứ thế, theo những lời thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân ta đã từng bước vượt qua khó khăn, thử thách, từng bước giành những thắng lợi trong sự nghiệp kiến quốc và kháng chiến.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ, vị tổng chỉ huy tối cao, nhưng Người đồng thời là một nhà thơ lớn của dân tộc. Bởi vậy, như một lẽ tự nhiên, đồng bào và chiến sĩ cả nước đón nhận những lời thơ chúc Tết của Người, đã không chỉ tìm thấy ở những vần thơ đó sự tổng kết những thành tựu đã đạt được trong năm qua, mà còn nhìn thấy được triển vọng và tình hình của năm mới, để kiên định và vững bước tiến lên: “Chuyển mau sang tổng phản công, Kháng chiến nhất định thắng lợi”- Xuân Canh Dần 1950, hoặc “Trường kỳ và gian khổ, Chắc thắng trăm phần trăm”- Xuân 1952,v.v.. Mừng xuân năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc: “Hoà bình, dân chủ khắp Nam Bắc Tây Đông. Năm mới, thắng lợi càng mới, thành công càng nhiều”. Và lời chúc đầu xuân đó đã trở thành sự thật, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã kết thúc với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.

Thơ chúc tết của Hồ Chí Minh là tiếng lòng, là tâm hồn một vị lãnh tụ

Ra đời trong những hoàn cảnh khác nhau, được viết với những mục đích, bút pháp và phong cách khác nhau, song thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt là Thơ chúc Tết là tiếng lòng, là tâm hồn một vị lãnh tụ suốt đời đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập, tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Thơ chúc Tết của Người “là một hình thái tươi đẹp của hoạt động cách mạng”, phản ánh hiện thực đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, là trang biên niên sử của cách mạng Việt Nam thời hiện đại. Bắt đúng mạch nhịp của cuộc sống, góp phần hướng dẫn, động viên và khơi dậy tinh thần dân tộc, truyền thống đoàn kết, đồng chí, đồng tâm của cả dân tộc, những lời thơ chúc Tết của Hồ Chí Minh dù được viết trong thời điểm lịch sử nào cũng vẫn tràn đầy niềm lạc quan cách mạng.

Có thể thấy những lời thơ, ý thơ trong 22 bài thơ chúc Tết (1942-1969) không chỉ cổ vũ, khích lệ tinh thần chiến đấu và chiến thắng của quân dân cả nước, mà còn đưa đến cho mỗi nhân dân dân Việt niềm tự hào và sự tin tưởng. Dù là những bài thơ chúc Tết thấm đẫm nhân sinh quan cách mạng, thể hiện tâm hồn người cộng sản Hồ Chí Minh, khi vang dậy như hiệu lệnh tiến công (Xuân 1947, 1968, 1969), khi nhẹ nhàng như một lời hát, một khúc ca (Xuân 1962, 1964, 1967), v.v.. song tựu chung lại, tất cả đã trở thành nguồn ánh sáng dẫn đường cho dân tộc ta, nhân dân ta đi tới thắng lợi cuối cùng.

Không chủ đích, nhưng ở Hồ Chí Minh, mỗi bài thơ mừng xuân là những lời thốt ra rất tự nhiên, phù hợp với thực tiễn đấu tranh cách mạng, song vẫn chan chứa ý thơ. Phong vị thơ đó không chỉ truyền khát vọng độc lập và thống nhất Tổ quốc, đồng hành cùng tiến trình lịch sử, đồng hành cùng vị thế của quân ta trên chiến trường, mà còn “lời hịch của cách mạng”. Tâm lực, trí lực và tâm hồn Hồ Chí Minh luôn gắn bó với hiện thực cách mạng, ở mũi nhọn của cuộc đấu tranh giải phóng, nên dù chỉ là: “Mấy câu thành thật nôm na, Vừa là kêu gọi vừa là mừng xuân”[9], song những vần thơ chúc mừng năm mới vẫn luôn là lời hiệu triệu đầy sức mạnh tinh thần.

Thơ chúc tết của Hồ Chí Minh giản dị nhưng sâu sắc, mà mỗi câu, mỗi chữ, mỗi vần đều là một biểu hiện, là sự kết tinh, là một “sự tổng hợp kinh nghiệm phong phú, là biểu thức của một chân lý sáng ngời mà vì thế nó mạnh hơn xe tăng đại bác, nó làm cho đất chuyển trời long”[10]. Nguồn sức mạnh của dân tộc hàm chứa trong những vần thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ là vũ khí tinh thần, cổ vũ nhân dân ta giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, mà tiếp tục là hồi kèn giục giã nhân dân miền Bắc thi đua trên công trường cải tạo và xây dựng CNXH, xây dựng hậu phương vững mạnh. Đồng thời, những bài thơ mừng Xuân ấy cũng cổ vũ đồng bào miền Nam kiên cường trên tuyến đầu Tổ quốc “đánh Mỹ và thắng Mỹ”, để giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà:

“Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua

Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Chúc đồng bào ta bền bỉ đấu tranh,

Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ

Cả nước một lòng, hăng hái tiến lên.

Thống nhất nước nhà, Bắc Nam vui vẻ”[11].

Từ trong sâu thẳm trái tim mình, Hồ Chí Minh luôn nhớ về miền Nam ruột thịt “Thành đồng Tổ quốc”, bởi đó là “máu của máu, là thịt của thịt Việt Nam”. Trong tư tưởng của Người, độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà, non sông liền một dải không chỉ là khát vọng, đó còn là chân lý. Bởi vậy, cũng như một lẽ tự nhiên, tình cảm, tấm lòng của Người luôn hướng về miền Nam và khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc luôn hiển hiện trong những bài thơ chúc Tết của Người. Yêu thương và gắn bó với miền Nam, Người không chỉ đặc biệt quan tâm, chỉ đạo sự chi viện về vật chất và tinh thần của miền Bắc XHCN cho miền Nam ruột thịt, mà mỗi thắng lợi của đồng bào miền Nam cũng dường như tiếp thêm sức mạnh cho Người.

Mang đến cho mọi người dân niềm vui, lòng chứa chan hy vọng: “Rồi đây thống nhất thành công, Bắc Nam ta lại vui trong một nhà” – Xuân Giáp Thìn 1964 và “Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới”- Xuân Ất Tỵ 1965, để hướng đến một mùa xuân toàn thắng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết lên nỗi lòng mình, thiết tha và giục giã: “Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi, Tin mừng thắng trận nở như hoa”- xuân Đinh Mùi 1967, “Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ. Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!” - Xuân Mậu Thân 1968.

Mang chất thép kiên cường và ngời sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mỗi bài thơ chúc Tết đều là những dấu mốc quan trọng trong chặng đường đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, thể hiện rõ ý chí và quyết tâm của Người và của những người dân Việt Nam là: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Xuân 1969, xuân cuối cùng của cuộc đời mình, dù sức khoẻ của Người đã yếu, nhưng là nhà lãnh đạo đặc biệt, càng trong thử thách lại tỏ ra sáng suốt, bình tĩnh, gan dạ, quên mình, kiên nghị và dũng cảm một cách phi thường, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dõi theo tình hình chiến sự ở miền Nam và lời thơ chúc Tết xuân đó của Người vẫn hào hùng, sảng khoái âm hưởng của chiến thắng.“Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào!Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào, Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn!”- đó không chỉ là nhiệm vụ chiến lược, đó còn đồng thời là thoả nguyện lòng mong mỏi của Người, hướng tới một thắng lợi trọn vẹn của toàn dân tộc. Lời thơ mừng Xuân cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh - lời của non nước đã thấm sâu vào trái tim và khối óc mỗi người dân đất Việt. Sua khi Người đi xa, thực hiện Di chúc của Người, thực hiện khát vọng và hoài bão lớn lao của Người, cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa xuân 1975 đã giành thắng lợi. Tổ quốc ta đã hoàn toàn độc lập, thống nhất.

Hơn 40 năm thực hiện Di chúc của Người (1969-2011), đồng thời cũng là hơn 40 mùa Xuân không còn được nghe thơ chúc Tết của Người, nhưng nói như Ph.Ăngghen, “lịch sử là nhà thơ lớn nhất”, và với ý nghĩa đó, những bài thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng giống như cuộc đời hoạt động cách mạng của Người là “bài ca bất tuyệt chứa chan thi vị, mang chiều sâu vẻ đẹp vô cùng, in dấu đậm nét nhất trong tiến trình lịch sử” đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Trên hành trình đầy gian lao, thử thách của sự nghiệp đấu tranh giải phóng và thực hiện thống nhất Tổ quốc, những lời thơ chúc Tết của Người không chỉ truyền khát vọng, mà còn nâng bước chúng ta đi trên mỗi chặng đường chiến đấu và chiến thắng.

Vừa tròn 70 năm sau ngày Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh về nước (28/1/1941- 28/1/2011), trực tiếp lãnh đạo sự nghiệp cách mạng nước nhà, một đất nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, đang vững bước trên con đường đổi mới và hội nhập quốc tế chắc hẳn đã làm vui lòng Người.

Xuân Tân Mão 2011, dù không còn được nghe thơ chúc Tết của Người, song âm hưởng những lời thơ mừng Xuân, gửi đến đồng bào và chiến sĩ cả nước lúc giao thừa hàng năm của Người lúc sinh thời vẫn lắng đọng trong tâm trí những người dân Việt Nam, dù họ là ai, và đang sinh sống tại quê hương, hay ở bất kỳ quốc gia nào. Đất trời vào xuân, và cùng với thành công của Đại hội Đảng lần thứ XI, những lời thơ chúc Tết thuở trước của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn là nguồn sức mạnh tinh thần vô giá, vẫn toả ánh sáng và dẫn đường để đưa sự nghiệp xây dựng CNXH, vì một nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh đi đến thành công./.

TS. Văn Thị Thanh Mai



[1] Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nha Thông tin chi bộ Pari xuất bản, tháng 12/1947, ký hiệu: H29C5/07, lưu Bảo tàng Hồ Chí Minh

[2] Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Nxb. CTQG, H, 1993, t. 1, tr. 94

[3] T. Lan, Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, H, 1963, tr.11

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.3, tr.1

[5] Trường Chinh, Về văn hoá văn nghệ, H, 1985, tr.338

[6] Hồ Chí Minh, Thơ chúc Tết, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, H, 1986, tr.7

[7] Hồ Chí Minh, Thơ chúc Tết, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, H, 1986, tr.9

[8] Hà Minh Đức, Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn, trong sách: Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam, Nxb. VHTT, H, 2000, tr.486

[9] Hồ Chí Minh, Thơ chúc Tết, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, H, 1986, tr.14

[10] Phan Anh, Ôn thơ Hồ Chủ tịch, báo Cứu quốc số 3120, ngày 19/5/1963

[11] Hồ Chí Minh, Thơ chúc Tết, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, H, 1986, tr.19

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website

Xem nhiều nhất