Tính phổ quát và tính đặc thù trong chính sách an sinh xã hội

An sinh xã hội (ASXH) là một lĩnh vực đã được thể hiện từ lâu trong thực tiễn với nhiều hình thức và trình độ khác nhau song hành với sự phát triển của kinh tế của mỗi nước. Đặc biệt, từ thực tiễn các cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế thế giới năm 2008-2009 cũng như qua diễn biến ở Trung Đông và Bắc Phi, của phong trào "Chiếm phố Wall", của cuộc khủng hoảng nợ công ở Liên minh châu Âu mà tiêu điểm là ở Hy Lạp hiện nay…, ASXH đã được nhìn nhận lại từ nhiều góc độ. Nhiều nước đã có sự điều chỉnh chính sách ASXH theo hướng vừa là sự định hướng cho vấn đề ASXH, vừa phản ánh những nhu cầu cơ bản và cấp bách của ASXH. Một trong những kinh nghiệm được nhiều nước tổng kết cũng như những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn thành công và chưa thành công trong việc hoạch định và thực hiện chính sách ASXH ở một số nước là việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tính phổ quát và tính đặc thù trong chính sách ASXH.

Việc thể hiện tính phổ quát và tính đặc thù trong chính sách ASXH sẽ khắc phục được 2 xu hướng không đúng trong việc hoạch định chính sách ASXH. Một là, xu hướng hoạch định chính sách ASXH của nước mình có tính chất biệt lập, tách rời với các hoạt động an sinh xã hội của các nước khác, không phù hợp với xu thế toàn cầu hoá hiện nay với đặc trưng là sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước. Hai là, xu hướng hoạch định chính sách ASXH không tính tới những điều kiện, đặc điểm cụ thể của mỗi nước từ đó hạn chế tính khả thi, tính hiệu quả của chính sách.

Tính phổ quát của chính sách ASXH trước hết do bản chất của vấn đề ASXH quy định. ASXH là sự bảo đảm an toàn cho mọi thành viên trong quá trình tham gia lao động với các hình thức, là sự chia sẻ của cộng đồng với mọi thành viên khi gặp rủi ro hoặc tình cảnh yếu thế. Đó là rủi ro về tự nhiên (động đất, sóng thần, bão lụt…); về môi trường (nhiễm độc, cháy, nổ…); về sức khoẻ (ốm đau, bệnh tật, khuyết tật…); về kinh tế (thất nghiệp, tai nạn lao động)…); về xã hội (người già, người cô đơn, thương bệnh binh…).

Tính phổ quát của chính sách ASXH của mỗi nước còn xuất phát từ những mối quan hệ có tính khách quan giữa ASXH với các lĩnh vực của đời sống xã hội mà mỗi nước đều liên quan, đều phải giải quyết với mức độ và hình thức phù hợp. Về mặt kinh tế, ASXH có liên quan đến một trong những mối quan hệ cơ bản của đời sống xã hội là quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, phản ánh quan hệ giữa sản xuất và phân phối trong xã hội. Về mặt chính trị, ASXH phản ánh tính ưu việt của một chế độ chính trị, thể hiện bản chất của một Nhà nước. Về mặt văn hoá, ASXH phản ánh những giá trị nhân văn của nhân loại, truyền thống của mỗi dân tộc. Về phương diện con người, ASXH là một nội dung của quyền con người, là nhu cầu thiết thân của từng người. Về mặt quốc tế, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá - một xu thế lớn của thời đại – ASXH góp phần quan trọng vào việc giải quyết những vấn đề toàn cầu hiện nay và thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá, là chất xúc tác trong quá trình hội nhập quốc tế, là cầu nối giữa các dân tộc, các quốc gia. Nhiều nội dung của ASXH đã trở thành vấn đề toàn cầu. Đồng thời việc giải quyết nhiều vấn đề ASXH không còn là công việc riêng biệt của mỗi quốc gia, dù đó là những quốc gia có tiềm lực kinh tế hàng đầu thế giới. Việc giải quyết nhiều vấn đề ASXH ngày nay đòi hỏi phải có sự liên kết, phối hợp giải quyết. Cuộc khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp đòi hỏi Liên minh châu Âu phải có sự cứu trợ hàng trăm tỷ USD. Những vấn đề trên đây có tính khách quan, không phân biệt các quốc gia, các tầng lớp, các nhóm dân cư, tôn giáo, dân tộc…

Tính phổ quát của chính sách ASXH thể hiện ở chỗ tất cả các nước, bất kể ở trình độ nào của sự phát triển đều phải thể hiện trong chính sách ASXH của mình những thành tố cơ bản như bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội (cả cứu tế xã hội và trợ giúp xã hội), ưu đãi xã hội với các hình thức khác nhau. Tính phổ quát của chính sách ASXH còn thể hiện ở chỗ trong mỗi thành tố nói trên phải có những bộ phận không thể thiếu như trong thành tố bảo hiểm xã hội nhất thiết phải có chế độ bảo hiểm thất nghiệp, hưu trí, bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm tàn tật, tiền tuất; trong thành phần cứu trợ xã hội phải có cứu trợ thường xuyên và cứu trợ đột xuất.

Tính đặc thù của ASXH chịu sự tác động của nhiều yếu tố.

Một là, do nhận thức về khái niệm ASXH. Theo nghĩa rộng ASXH ngoài nội dung truyền thống còn bao gồm cả lĩnh vực xã hội như vấn đề đào tạo người lao động, hướng nghiệp cho thanh niên, tín dụng cho sinh viên sau khi ra trường; giới thiệu việc làm, vấn đề nhà ở, vấn đề dân số và gia đình,v.v.. Theo nghĩa đó, chính sách ASXH sẽ bao quát một phạm vi rất rộng và nguồn kinh phí của Nhà nước cũng như nguồn huy động xã hội sẽ tăng lên.

Hai là, do loại mô hình phát triển của mỗi nước. Mỗi loại mô hình có những ưu điểm và hạn chế nhất định.

Mô hình Anh - Mỹ phát huy tối đa ưu thế của kinh tế thị trường, lấy lợi nhuận là mục tiêu tối thượng, song chú ý chưa đúng mức đến việc phân phối công bằng và hợp lý.

Mô hình Bắc Âu và một số nước Tây Âu với đặc trưng là sự kết hợp giữa những nguyên tắc của thị trường tư bản tự do và sự can dự ở mức độ thích hợp của Nhà nước. Mô hình này cũng có những vấn đề nảy sinh, do dành ưu tiên cho phúc lợi vượt quá khả năng của nền kinh tế khiến giá thành sản phẩm cao, hạn chế tính cạnh tranh và nảy sinh tâm lý thiếu tính tích cực và tính sáng tạo trong một bộ phận cộng đồng. Do đó các nước theo mô hình này đã phải đối mặt với tình trạng tăng trưởng giảm dần, có nước tăng trưởng âm và tình trạng thâm hụt ngân sách ngày càng lớn.

Mô hình Đông Á (khái niệm này được đưa ra năm 1993 qua tổng kết của Ngân hàng Thế giới (WB)) ưu tiên cho sự phát triển kinh tế nhằm khắc phục những hậu quả của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai và tập trung vào mục tiêu nhanh chóng đuổi kịp các nước Âu Mỹ. Nhờ đó, các nước này có sự tăng trưởng nhanh chóng, song cũng vì thế khiến cho môi trường tự nhiên bị phá hoại, phân hoá giàu nghèo tăng, ASXH bị hạn chế.

Mô hình "Tổng hạnh phúc quốc gia" (GNH) được nêu lại tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về "Hạnh phúc và phúc lợi xác định mô hình kinh tế mới" tổ chức tại Mỹ gần đây. Mô hình này dựa trên 3 trụ cột là phúc lợi xã hội, kinh tế và môi trường. Ba trụ cột này có quan hệ chặt chẽ với nhau và là tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững của một quốc gia. Mô hình này coi "Tổng hạnh phúc quốc gia (GNH) quan trọng hơn Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

Ba là, do những điều kiện cụ thể của mỗi nước. Về lịch sử, có nước trải qua những cuộc chiến tranh với các loại hình khác nhau như giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc…; có nước phải chịu những cuộc xung đột giữa các sắc tộc, giữa các tôn giáo. Về địa lý, có nước nằm ở những vùng có vị trí, hoặc có cấu tạo địa chất đặc thù dễ đưa đến tình trạng động đất, bão, lũ, núi lửa, sóng thần. Về dân cư, một số nước có số dân quá lớn hoặc quá ít, cũng buộc các nước phải có chính sách hạn chế sinh đẻ hoặc khuyến khích sinh đẻ. Có nước phải đặt ra vấn đề nhập cư không chỉ do thiếu lao động, mà còn do vị trí địa - kinh tế phải tiếp nhận dòng người di cư, trong đó có một bộ phận lao động có chất lượng cao, lao động "chất xám". Về kinh tế, các nước có trình độ phát triển không như nhau - có nước ở giai đoạn phát triển cao của nền kinh tế thị trường, có nước ở vào giai đoạn mới bắt đầu, thậm chí một số nước không phát triển kinh tế thị trường. Về chính trị, các nước có chế độ chính trị khác nhau như tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa. Trong một chế độ xã hội cũng có sự khác nhau ở mỗi nước, ở mỗi thời ky,â cũng như phụ thuộc vào chính sách của các đảng cầm quyền, của người đứng đầu.

Các yếu tố trên đây tác động đến việc hoạch định chính sách ASXH ở mỗi nước cũng như ở mỗi thời kỳ.

Tính đặc thù của chính sách ASXH thể hiện ở nhiều mặt. Một là, vị trí của các thành tố trong chính sách ASXH của các nước có sự khác nhau. Trong khi đa số các nước coi bảo hiểm xã hội có vị trí hàng đầu, là cốt lõi, là hạt nhân, là cột trụ chính trong chính sách ASXH thì các nước Bắc Âu, NewZealand, Australia… lại coi phúc lợi xã hội ở vị trí ưu tiên hàng đầu trong chính sách ASXH của mình.

Hai là, trong chính sách ASXH của một số nước có thêm một số loại hình mà nước khác không áp dụng. Ở một số nước châu Phi như Uganda, Zambia, Kenya, Tanzania… vẫn sử dụng Quỹ Dự phòng mà chưa chuyển sang bảo hiểm xã hội. Ở Trung Quốc và một số nước đang phát triển đều coi xoá đói, giảm nghèo là một bộ phận quan trọng trong chính sách ASXH, góp phần tạo điều kiện để nâng cao chất lượng và hiệu quả của chính sách ASXH.

Ba là, nội dung các chế độ trong chính sách ASXH của mỗi nước cũng khác nhau. Công ước số 102 ngày 28-6-1952 và Công ước số 157 ngày 21-6-1982 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về ASXH có 9 chế độ về bảo hiểm xã hội là chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tuổi già (hưu trí), trợ cấp tiền tuất, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp gia đình. Song trong chính sách ASXH của mỗi nước chỉ có thể áp dụng một số chế độ, hoặc đặt vị trí trật tự ưu tiên khác nhau giữa các chế độ bảo hiểm xã hội. Với nhiều nước trải qua chiến tranh, thì trong chính sách ưu đãi xã hội có dành ưu tiên cho đối tượng gia đình liệt sĩ, thương bệnh binh (như ở Trung Quốc, Liên Xô trước đây và Liên bang Nga hiện nay, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc)… trong khi ở nhiều nước khác, chính sách này lại dành ưu tiên cho những người có những cống hiến đặc biệt cho đất nước trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao…Về tuổi nghỉ hưu, hơn 80% các nước quy định tuổi nghỉ hưu của nam và nữ như nhau, các nước còn lại có quy định khác nhau giữa nam và nữ. Trung Quốc quy định tuổi nghỉ hưu của nam là 60, nữ từ 50 đến 60. Hiện nay do tình trạng già hoá dân số và tỉ lệ sinh giảm, một số nước có điều chỉnh để tăng tuổi nghỉ hưu từ 62 lên 65 hoặc từ 65 lên 67 như các nước Tây Âu, Nhật… Trong khi đó, Bôlivia lại điều chỉnh tuổi nghỉ hưu từ 65 xuống 58.

Bốn là, thời điểm hoạt động của các loại hình ASXH ở các nước cũng có sự khác nhau. Nếu ở Mỹ, Tây Âu bảo hiểm thương mại và các dịch vụ hỗ trợ ASXH đã hình thành từ lâu và đang đi vào chiều sâu thì ở các nước đang phát triển chỉ mới ở giai đoạn sơ khai, chưa định hình. Bảo hiểm nhân thọ ở Anh đã có từ năm 1583, bảo hiểm hoả hoạn đã có ở Đức từ năm 1591.

Năm là, tỷ lệ đóng góp của người sử dụng lao động và của người lao động vào các chế độ bảo hiểm xã hội khác nhau. Ở Đức, tỷ lệ đóng góp của người sử dụng lao động là 19% so với quỹ lương trong khi ở Pháp là 22%, ở Trung Quốc là 20%, Singapore là 23%, ở Hàn Quốc là 5%, ở Thái Lan là 9,5%. Ở Đức tỷ lệ đóng góp của người lao động là 19% so với tiền lương, trong khi ở Pháp là 22%, ở Singapore là 23%, ở Trung Quốc là 4%, Hàn Quốc là 4%, Thái Lan là 10%.

Để hoạch định một chính sách ASXH đúng đắn, có tính khả thi và có hiệu quả, ngoài việc thể hiện tính phổ quát và tính đặc thù, chính sách ASXH cần giải quyết đúng đắn các mối quan hệ giữa ASXH và các lĩnh vực khác như ASXH và phát triển kinh tế, ASXH và ổn định xã hội, cũng như các yếu tố có tính chất là điều kiện như hệ thống pháp luật, cơ cấu tổ chức,v.v.. Đồng thời, xét đến cùng, chính sách ASXH của mỗi nước phải được thực thi ngay ở chính nước đó với những đặc điểm đất nước từng thời kỳ và ở từng vùng, miền, từng địa phương, từng ngành. Mặc dù chính sách ASXH luôn được điều chỉnh, song sự phát triển sinh động và nhanh chóng thậm chí đột biến của thực tiễn, nên chính sách ASXH không thể có đủ mọi giải pháp phù hợp cho tất cả những vấn đề đặt ra trong lĩnh vực ASXH. Vì thế, tính phổ quát và tính đặc thù không chỉ là đòi hỏi đối với việc hoạch định chính sách ASXH, mà còn là đòi hỏi đối với việc thực thi chính sách ASXH./.



PGS. TS. Phạm Hữu Tiến

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website

Xem nhiều nhất