Giữ gìn bản sắc văn hóa trong lĩnh vực du lịch
Xòe Thái tại lễ hội Văn hóa-Du lịch Mường Lò, tỉnh Yên Bái. (Ảnh minh họa)
Mặc dù các sản phẩm này có thể góp phần thúc đẩy nhu cầu du lịch trong ngắn hạn nhưng về lâu dài một nền du lịch muốn phát triển bền vững chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở bản sắc văn hóa của dân tộc.

Hình ảnh về những chiếc cổng thiên đường của vùng đất Bali (Indonesia) đã mê hoặc nhiều người. Nhưng bây giờ, không cần đến Bali, ngay tại Việt Nam, mọi người cũng có thể check-in tại "cổng thiên đường" ở các khu du lịch tại Sa Pa (Lào Cai) hay Tam Ðảo (Vĩnh Phúc), Ðà Lạt (Lâm Ðồng)...

Câu chuyện tương tự ngày càng phổ biến tại nhiều khu du lịch và có thể thấy hầu như các sản phẩm du lịch nào thu hút công chúng lập tức sẽ sớm có bản sao. Riêng ở Ðà Lạt (Lâm Ðồng) hiện có hẳn hai "Cầu Vàng" mô phỏng chiếc Cầu Vàng nổi tiếng ở Ðà Nẵng với quy mô nhỏ hơn. Nhật Bản nổi tiếng với hình ảnh những chiếc cổng Torii, thì bây giờ, các khu du lịch lớn ở khắp Việt Nam đều thi nhau mời gọi khách chụp hình đẹp "không góc chết" ở chính chiếc cổng Torii "phiên bản Việt". Tại thị trấn Sa Pa bên cạnh "cổng thiên đường" cũng hăng hái bê nguyên "cổng Torii" của Nhật Bản về để làm du lịch.

Những biểu tượng văn hóa của các quốc gia luôn có lịch sử ra đời, gắn với những lớp lang văn hóa. Nhưng việc copy các biểu tượng này hiện ở một số điểm du lịch không còn đơn giản là giới thiệu sự mới lạ hoặc dừng ở những kiến trúc hay những biểu tượng văn hóa nhỏ lẻ phục vụ cho nhu cầu... chụp ảnh của khách du lịch mà đang nguy cơ trở nên quá đà khi được thực hiện ở quy mô lớn bằng việc mô phỏng, sao chép, hay thu nhỏ cả một không gian kiến trúc.

Trên thực tế, khi mới ra đời, không ít sản phẩm sao chép đã thu hút khá đông khách du lịch. Nhiều người cho rằng khi chưa có điều kiện đi Ðà Nẵng để "check-in" Cầu Vàng, thì chụp "tạm" vài tấm hình "Cầu Vàng" phiên bản nhái để khoe với bạn bè cũng không sao. Hoặc ghé thăm "cổng thiên đường", "cổng Torii" hay "làng Pháp", "Venice thu nhỏ"… phiên bản nhái để chụp vài tấm hình. Nhu cầu này khiến các khu du lịch đua nhau xây dựng sản phẩm, quảng bá việc sao chép để hút khách.

Tuy nhiên, về lâu dài nhiều ý kiến cho rằng, việc làm du lịch kiểu "đạo", "nhái" văn hóa rất dễ nguy cơ đem đến hậu quả khôn lường.

Việc copy các biểu tượng này hiện ở một số điểm du lịch không còn đơn giản là giới thiệu sự mới lạ hoặc dừng ở những kiến trúc hay những biểu tượng văn hóa nhỏ lẻ phục vụ cho nhu cầu... chụp ảnh của khách du lịch mà đang nguy cơ trở nên quá đà khi được thực hiện ở quy mô lớn bằng việc mô phỏng, sao chép, hay thu nhỏ cả một không gian kiến trúc.

Trước hết, trong bất kỳ hoạt động du lịch nào, phần đông khách du lịch luôn muốn có những trải nghiệm mới mẻ và được khám phá về vùng đất, quốc gia mà họ ghé thăm ở các khía cạnh: phong tục tập quán, tín ngưỡng, các lễ hội truyền thống, di tích lịch sử, những kiến trúc, nghệ thuật trình diễn, ẩm thực, sản phẩm thủ công mỹ nghệ và các sản phẩm văn hóa khác... Những trải nghiệm mà khách du lịch hướng đến là sự khác biệt về văn hóa. Bản sắc văn hóa của các vùng miền, các dân tộc, các quốc gia chính là điều tạo nên sức hấp dẫn với khách du lịch đến từ vùng miền, hay quốc gia khác.

Ở Việt Nam, không ít địa phương đã thành công với việc khai thác chất liệu văn hóa, nhất là văn hóa truyền thống làm nền tảng thu hút khách du lịch. Chẳng hạn, tại Hà Nội, lực hút đối với khách du lịch là hệ thống di tích, di sản dày đặc, nổi bật như Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu-Quốc Tử Giám... hay phố cổ, làng cổ, làng nghề.

Từ nền tảng ấy, các doanh nghiệp du lịch, các đơn vị quản lý điểm đến đã xây dựng, sáng tạo ra những chương trình, sản phẩm hấp dẫn. Tại khu vực Tây Bắc, bên cạnh yếu tố cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, nhiều địa phương đã khai thác nét đặc sắc trong văn hóa các dân tộc Hmông, Dao, Thái... để tạo ra các chương trình du lịch từ thưởng thức nghệ thuật, ẩm thực của các dân tộc thiểu số đến các dịch vụ homestay. Tại đồng bằng sông Cửu Long, "đặc sản" của một số tỉnh, thành là tour miệt vườn, tour sông nước với đờn ca tài tử. Do nhu cầu trải nghiệm văn hóa, ngày càng nhiều quốc gia, địa phương thúc đẩy du lịch cộng đồng, thông qua việc tăng cường tương tác trực tiếp giữa khách du lịch với cộng đồng cư dân bản địa.

Bản sắc văn hóa của các vùng miền, các dân tộc, các quốc gia chính là điều tạo nên sức hấp dẫn với khách du lịch đến từ vùng miền, hay quốc gia khác.

Trong khi đó, trên thực tế việc sao chép, mô phỏng các di tích lịch sử, công trình kiến trúc, quần thể kiến trúc, biểu tượng văn hóa... chỉ tạo ra sự mới mẻ ban đầu hoặc có tác dụng với nhóm khách du lịch "dễ tính". Bởi bản sắc văn hóa không đơn giản chỉ là câu chuyện bắt chước cho giống hình hài. Ðằng sau những công trình kiến trúc, biểu tượng văn hóa của một địa phương, một vùng miền, hay rộng hơn là một dân tộc là truyền thống, phong tục, tập quán cho đến cả lịch sử hình thành, phát triển, là những câu chuyện văn hóa đi kèm từ tâm thức, ký ức cộng đồng, lối sống, cách ứng xử của những lớp cư dân sinh sống qua các thế hệ gắn bó với những yếu tố văn hóa, kiến trúc ấy. Một chiếc "cổng thiên đường", một "làng Pháp" sao chép thậm chí có thể đẹp hơn phiên bản gốc, nhưng rõ ràng không thể chứa đựng trong đó bề dày của những câu chuyện văn hóa, rất khó có lý do để người ta quay lại với mục đích trải nghiệm và tìm hiểu. Những khảo sát quốc tế cho thấy, những yếu tố khiến khách du lịch quay lại, bên cạnh cảnh quan, chất lượng dịch vụ..., thì sự độc đáo của bản sắc văn hóa là một yếu tố then chốt.

Việc đề cao yếu tố ngoại trong sản phẩm du lịch nội còn khiến văn hóa bản địa trở nên yếu thế, có nguy cơ phai nhạt. Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc là quan điểm xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Ðảng. Trong bối cảnh "thế giới phẳng", nguy cơ văn hóa bản địa bị lấn át bởi văn hóa ngoại lai ngày càng cao, nếu chúng ta không có ý thức bảo tồn, phát huy thì thậm chí văn hóa Việt có thể phải đối mặt với nguy cơ phai nhạt, mất bản sắc trên đất nước chúng ta. Chú trọng phát triển du lịch văn hóa bằng các đặc trưng văn hóa bản địa không chỉ góp phần giúp quảng bá văn hóa truyền thống của đất nước, tăng cường sức mạnh mềm văn hóa, mà du lịch văn hóa còn quay trở lại phục vụ cho công tác bảo tồn.

Thí dụ điển hình là nghệ thuật xòe Thái ở các tỉnh Tây Bắc như Ðiện Biên, Sơn La hiện nay rất phát triển. Hiện có những đội xòe Thái làm du lịch cộng đồng, biểu diễn phục vụ nhu cầu của khách du lịch. Không chỉ tạo ra sản phẩm du lịch giàu bản sắc, thu hút du khách mà thu nhập từ du lịch văn hóa còn tạo động lực giúp người dân địa phương có ý thức hơn về bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc mình. Nhìn rộng ra, mỗi vùng miền, mỗi địa phương đều có những nét văn hóa đặc trưng, đây là nguồn tài nguyên to lớn để xây dựng các sản phẩm du lịch hấp dẫn khách thập phương.

Tình trạng sao chép các yếu tố văn hóa của địa phương, quốc gia khác ở một số điểm tham quan hiện nay còn nguy cơ làm mất tính sáng tạo trong xây dựng sản phẩm du lịch. Chính những giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể, hay cảnh quan thiên nhiên mới là tài nguyên để thu hút khách du lịch, do đó phải được quan tâm chú trọng và xây dựng thành những sản phẩm du lịch.

Ngoài ra, để xây dựng được sản phẩm độc đáo, hấp dẫn khách du lịch còn cần cả một quá trình, từ nắm bắt nhu cầu thị trường, cho đến công tác tổ chức, khả năng "khai thác" các tài nguyên, mức độ can thiệp của bàn tay con người vào các tài nguyên, nội dung hướng dẫn khách du lịch tìm hiểu, trải nghiệm...

Việc sao chép hoặc phụ thuộc vào các yếu tố sẵn có của các địa phương, quốc gia khác ngoài nguy cơ khiến văn hóa bản địa bị "bỏ quên", còn đồng thời làm mất đi tính sáng tạo, sự phát triển bền vững..., vốn là những yếu tố rất cần thiết đối với các doanh nghiệp du lịch.

Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Ðảng tổ chức tháng 11/2021, Báo cáo của Ban tổ chức Hội nghị có nội dung "Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc; Xây dựng, phát triển văn hóa sau 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước; Các định hướng, giải pháp chủ yếu nhằm phát triển văn hóa, con người Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Ðại hội XIII của Ðảng" đã chỉ ra những hạn chế trong phát triển văn hóa thời gian qua. Trong đó, có một số vấn đề nổi bật như: Nhiều loại hình di sản văn hóa truyền thống có dấu hiệu xuống cấp, mai một, biến dạng; "nhập siêu văn hóa" kéo dài; ngành công nghiệp văn hóa còn quy mô nhỏ, hoạt động yếu...

Ðáng chú ý, trong 10 giải pháp trọng tâm được đưa ra nhằm xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam thời gian tới, có nội dung quan trọng là: "Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội. Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế, xã hội; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch".

Báo cáo cũng nhấn mạnh việc chủ động mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng các hình thức văn hóa đối ngoại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực; tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm văn hóa dân tộc; Chủ động đón nhận cơ hội phát triển, vượt qua các thách thức để giữ gìn, hoàn thiện bản sắc văn hóa dân tộc; hạn chế, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực, mặt trái của toàn cầu hóa về văn hóa.

Như vậy, đường hướng khai thác các giá trị văn hóa vào phát triển du lịch đã rõ ràng. Căn cứ vào thực tiễn, soi chiếu quan điểm chỉ đạo của Ðảng đối với gìn giữ, phát huy văn hóa dân tộc, đối với phát triển du lịch, các cấp, các ngành, địa phương cần khẩn trương triển khai các bước đi, cách làm cụ thể, thiết thực, trong đó có việc khắc phục vấn đề sao chép trong sản phẩm du lịch đang có chiều hướng lan rộng hiện nay.

Ðồng thời, cần có những giải pháp để hạn chế tình trạng đầu tư những khu du lịch lớn, nhưng chủ đầu tư lại "nhập khẩu" các văn hóa ngoại lai. Ngăn chặn việc sao chép, quá đề cao yếu tố ngoại, "bỏ quên" bản sắc... chính là biện pháp giữ gìn, phát huy văn hóa dân tộc./.

GIANG NAM (nhandan.vn)

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website

Xem nhiều nhất