Tự do, dân chủ trong sáng tạo nghệ thuật
Một cảnh trong vở diễn "Võ Tam Tư" của Nhà hát Tuồng Việt Nam. (Ảnh minh họa)

TỰ DO SÁNG TẠO KHÔNG PHẢI LÀ TÙY TIỆN

Như rất nhiều quốc gia văn minh khác, ở Việt Nam, tự do sáng tạo nghệ thuật luôn gắn liền với ý thức, trách nhiệm của nghệ sĩ đối với xã hội, và là sự tự ý thức. Chính vì thế, tình trạng một số sản phẩm phản văn hóa, phi nghệ thuật bị cơ quan chức năng xử phạt, thậm chí thu hồi, cấm phát hành, khiến dư luận đang đặt ra câu hỏi về trách nhiệm xã hội của những nghệ sĩ này.

Từ khi Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời và tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nghệ thuật luôn được quan tâm, chú trọng tạo điều kiện phát triển và trên thực tế đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, xây dựng đời sống văn hóa mới. Tuy nhiên, dù luôn được quan tâm, chú trọng, đề cao, dành nhiều công sức để phát triển nghệ thuật, thì vẫn phải thừa nhận công tác lãnh đạo, quản lý văn hóa nói chung, nghệ thuật nói riêng vẫn còn có lúc có khi chưa đáp ứng kịp nhu cầu thực tiễn, còn tồn tại một số bất cập. Vì thế, Nghị quyết số 05-NQ/TW (1987) về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới đã được ban hành.

Và không thể phủ nhận, sau 34 năm, Nghị quyết số 05-NQ/TW và nhiều văn bản, chính sách kế thừa, đã phát huy tinh thần đổi mới để thúc đẩy tự do sáng tạo của nghệ sĩ, với sự ra đời nhiều tác phẩm nghệ thuật có giá trị tư tưởng-nghệ thuật cao, có tiếng vang trong nước và quốc tế. Tuy nhiên gần đây, thực tế hoạt động nghệ thuật cho thấy, trong khi tác phẩm chất lượng cao có xu hướng chững lại, thì xuất hiện một số sản phẩm nghệ thuật dường như bị tầm thường hóa, "thiên chức" của nghệ thuật có chiều hướng bị thay thế bằng việc đề cao chức năng giải trí. Thậm chí, có hiện tượng nhân danh đổi mới, sáng tạo để che đậy động cơ thiếu trong sáng, thậm chí vi phạm pháp luật.

Trên bối cảnh rộng có thể thấy gần đây, ưu thế của các nền tảng số, không gian mạng, âm thanh trực tuyến tạo ra nhiều hình thức phát hành, xuất bản mới như sách điện tử, phim chiếu trên mạng, nhạc số,... đã tạo cơ hội để một số nghệ sĩ thử nghiệm sáng tác bằng tiếng nước ngoài, hoặc chọn thị trường quốc tế để công bố tác phẩm. Cùng với đó là sự xuất hiện một số trào lưu, xu hướng nghệ thuật và sự nở rộ của hình thức "tự xuất bản" trên mạng xã hội, trang thương mại điện tử. Ðặc biệt, từ khi đại dịch COVID-19 xuất hiện với diễn biến phức tạp, không ít cá nhân, hoặc tập thể người làm nghệ thuật tập trung vào các phương thức phát hành, xuất bản phi truyền thống... Các yếu tố này đã và đang đưa tới một số lúng túng của cơ quan quản lý, nếu không nói có cơ quan như bị "hụt hơi", cơ chế, chính sách chưa theo kịp tốc độ phát triển của nghệ thuật.

Không chỉ vậy, tình trạng một số tiêu chuẩn cộng đồng còn lỏng lẻo, lạc hậu so với thực tiễn, lối làm việc bất hợp tác của một số nơi cung cấp dịch vụ mạng xã hội, phim, âm nhạc, sách trực tuyến,... cũng trực tiếp gây khó khăn cho các cơ quan hữu quan. Và hậu quả là bên cạnh yếu tố tích cực cần khuyến khích, thị trường nghệ thuật xuất hiện không ít sản phẩm có nội dung, hình thức nhảm nhí, dung tục, bị coi là "rác văn hóa". Một số sản phẩm có nội dung xấu, độc đã bị các cơ quan thẩm quyền yêu cầu thu hồi, không phát hành; một số chương trình biểu diễn, sản phẩm điện ảnh bị xử phạt vì tổ chức công chiếu sai quy định của pháp luật, có bộ phim bị cấm. Nổi lên gần đây là việc Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xử phạt hai ca sĩ Ðinh Thanh Tùng-nghệ danh "Chị Cả", và Lê Vũ An-nghệ danh "Chí", vì có sáng tác phản văn hóa, đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ của dư luận.

Cần nhìn thẳng vào sự thật để thấy rằng, gần đây tình trạng vi phạm pháp luật, coi nhẹ vai trò, trách nhiệm của nghệ sĩ với xã hội, công chúng, đã xuất hiện trong một số nghệ sĩ sáng tác, biểu diễn. Ðó không còn là hiện tượng cá biệt mà xuất hiện ở khá nhiều loại hình nghệ thuật. Như trong âm nhạc, ngày 26/6/2014, Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xử phạt Tô Minh Vũ (Yanbi), Tằng Quốc Anh (Mr T) và Vũ Quốc Tùng (T-Akayc) vì chế lời bài hát "Thu cuối", hát ca khúc "Phiếu bé ngoan" có nội dung, ca từ thô tục không phù hợp thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa. Trong điện ảnh, một vài đạo diễn, nhà sản xuất không chú ý tham chiếu, rút kinh nghiệm từ một số tác phẩm từng bị yêu cầu chỉnh sửa, cắt, cấm phổ biến vì vi phạm Luật Ðiện ảnh, khiến một số phim bị cấm chiếu như: Bẫy cấp 3, Bụi đời chợ Lớn, Rừng xác sống, Bẫy rồng... Thậm chí có tác giả văn học còn tự hào, khoe khoang trên mạng xã hội khi tác phẩm của họ bị thu hồi, yêu cầu chỉnh sửa nội dung...

Không những vậy, thay vì xem xét, đánh giá công tâm, trên mạng xã hội lại xuất hiện một số nhóm người hâm mộ có phát ngôn không đúng mực để bảo vệ "thần tượng" của họ. Như về ca từ lệch lạc trong ca khúc Censored, một người hâm mộ Rap Việt bình luận: "Sao không thay đổi cách nhìn nhận của mọi người về Rap. Không phải lời Rap nào cũng phải đúng với ngoài đời, chỉ là những gì người ta tưởng tượng ra". Hoặc đề cập nội dung báng bổ Phật giáo trong bản ráp Thích Ca Mâu Chí, họ ngụy biện rằng: "Rap từ lâu đã bậy như thế và đã truyền bá ra thế giới rồi, chỉ không truyền được vào đầu những người tiêu chuẩn kép nhưng không có não thôi". Họ không cần biết Rap ra đời ở phương Tây, thường có ngôn từ gai góc nhưng mục đích là tố cáo thực trạng bất công xã hội, phân biệt chủng tộc, khoảng cách giàu-nghèo... Khi hòa vào âm nhạc đại chúng, các rapper trên thế giới ngày càng quan tâm tới sứ mệnh nghệ thuật trong sáng tác. Hơn nữa khi tiếp thu và sáng tạo, nghệ sĩ cần đặt mình vào quá trình tiếp biến văn hóa, không thể rập khuôn, không bê nguyên xi loại thể âm nhạc xa lạ vào đời sống âm nhạc dân tộc. Bởi không thể phủ nhận sự thật là nền tân nhạc của Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn từ âm nhạc phương Tây nhưng vẫn giữ được bản sắc dân tộc chính nhờ vào việc chọn lọc, kế thừa các giá trị phù hợp văn hóa, con người Việt Nam.

Chưa tìm hiểu bản chất vấn đề, hoặc cố tình tảng lờ bản chất vấn đề, trước hiện tượng tác phẩm bị thu hồi, cấm lưu hành, một vài chuyên gia tự phong nhận định áp dụng xử phạt hành chính với những sản phẩm nghệ thuật biểu diễn được cho là "trái thuần phong mỹ tục" rất dễ rơi vào lạm quyền, có thể dẫn tới nguy cơ làm cản trở quyền tự do ngôn luận và tự do biểu đạt, cản trở sáng tạo! Vài người còn từ thuyết âm mưu mà nghi ngờ các đơn vị chức năng lập "danh sách đen", "sổ đen" để gây khó dễ cho một số tác giả, tác phẩm. Nhưng sự thật không phải vậy. Như trường hợp đạo diễn Việt kiều Lê Văn Kiệt, dù được coi là "đạo diễn Việt kiều có nhiều phim bị cấm chiếu nhất Việt Nam", Kiệt vẫn nói rõ ràng rằng: "Chuyện duyệt phim không chỉ có ở Việt Nam. Ở Hollywood, đạo diễn phải duyệt phim với nhà đầu tư. Nếu không đúng ý người ta thì họ còn không nói chuyện với mình, nói gì đến chuyện sản xuất được phim". Sau thất bại, việc tìm hiểu văn hóa Việt Nam với thái độ trân trọng đã giúp đạo diễn này chinh phục khán giả với các bộ phim ấn tượng như Dịu dàng (2014) và Hai Phượng (2019).

Không chỉ với Việt Nam, yêu cầu chỉnh sửa tác phẩm, hoặc cấm lưu hành tác phẩm vì nội dung không phù hợp giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức,… vẫn được thực hiện tại nhiều quốc gia trên thế giới. Theo đó, sản phẩm bị xử lý đều có nguyên nhân từ nội dung, hình thức đã vượt qua tiêu chí cho phép về chủ đề bạo lực, tình dục, chất gây nghiện, chính trị, tôn giáo, ngôn ngữ thô tục… Thí dụ: Từ năm 1954 đến nay, Ủy ban phân loại điện ảnh Vương quốc Anh (BBFC) từng từ chối cấp phép vĩnh viễn 84 bộ phim; yêu cầu chỉnh sửa, cắt bỏ nội dung, hạn chế phát hành hàng trăm bộ phim khác. Thời gian gần đây, trước đời sống bê bối của một số nghệ sĩ, nhiều nền tảng mạng xã hội, kênh phát hành trực tuyến còn chủ động xóa kênh, sáng tác của họ dù tác phẩm không vi phạm quy chế thẩm định. Năm 2019, YouTube đã xóa kênh của ca sĩ Austin Jones vì có hành vi gửi tin nhắn khiêu dâm cho trẻ vị thành niên. Mới đây, ngày 6/10/2021, nền tảng chia sẻ video này tiếp tục xóa hai trang chính thức của ca sĩ R. Kelly sau khi đã bị kết án vì tội lạm dụng tình dục.

Thời gian qua, điểm chung của hầu hết trường hợp bị xử phạt hành chính trong hoạt động biểu diễn, xuất bản, phát hành, lưu hành,... là nội dung tác phẩm không phù hợp, đi ngược lại các giá trị văn hóa Việt Nam. Thậm chí, có tác phẩm còn chứa nội dung xuyên tạc lịch sử, bôi đen hiện thực, cổ súy lối sống lệch chuẩn đạo đức, vi phạm thuần phong mỹ tục. Do đó, để bảo đảm môi trường nghệ thuật lành mạnh, đem đến cho công chúng tác phẩm có giá trị chân-thiện-mỹ, thì việc xử phạt là cần thiết.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các cơ quan chức năng còn bị động, chậm trễ xử lý sai phạm xảy ra trong hoạt động nghệ thuật. Với nhiều vụ việc, cơ quan chức năng chỉ vào cuộc, kiểm tra, xử phạt khi báo chí, dư luận lên tiếng phê phán. Bên cạnh đó, việc chấn chỉnh hoạt động nghệ thuật có sai phạm nhiều khi còn thiếu kiên quyết, chưa thực chất, nên đã để một số sản phẩm độc hại trôi nổi trên thị trường và không gian mạng, khiến nảy sinh so sánh thiệt hơn, gây mâu thuẫn trong giới sáng tạo nghệ thuật, và công chúng thưởng thức.

Vì vậy, hoạt động này phải tiến hành thường xuyên, trải đều trên các loại hình sáng tác, biểu diễn với sự tham gia của các cơ quan liên ngành, của báo chí, công chúng. Dù xử phạt là điều đáng tiếc, nhất là với người đã khẳng định tên tuổi, có dấu ấn trong sinh hoạt nghệ thuật, nhưng sự nghiêm túc, kiên quyết trên cơ sở pháp luật của cơ quan chức năng sẽ đem lại bài học hữu ích cho người làm nghệ thuật, giúp họ tự ý thức khi không đặt tự do sáng tạo lên trên trách nhiệm, nghĩa vụ với quá trình xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Bởi, chỉ khi thấm nhuần, tôn trọng văn hóa dân tộc, nghệ sĩ mới phát huy hết quyền tự do trong hoạt động sáng tạo và đồng thời, chỉ có sáng tạo hướng đến những giá trị nhân văn vì con người, nghệ sĩ mới có thể cống hiến và khẳng định được tên tuổi trong đời sống tinh thần của dân tộc.

(Ảnh minh họa)

NHÀ NƯỚC TẠO MỌI ĐIỀU KIỆN CHO HOẠT ĐỘNG SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT

Để phát huy mọi khả năng sáng tạo, đưa văn hóa, trong đó có nghệ thuật, tiếp tục phát triển trong thời kỳ mới, Đảng và Nhà nước luôn nhất quán về quan điểm, chủ trương, chính sách, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, để từ đó tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp các văn nghệ sĩ đạt nhiều thành tựu trong lĩnh vực hoạt động. Dù vậy, với cách nhìn hẹp hòi, định kiến, thiếu thiện chí, nhiều năm qua một số cá nhân, tổ chức vẫn cố tình phủ nhận thực tế đó, luôn tìm cách xuyên tạc, lớn tiếng lu loa cho rằng sáng tạo nghệ thuật đang bị kìm hãm…   

Dù đại dịch COVID-19 gây nhiều hệ lụy với tính mạng con người và sự phát triển kinh tế-xã hội, thời gian qua các hoạt động nghệ thuật vẫn diễn ra đa dạng, phong phú, kịp thời truyền tải năng lượng tích cực đến đời sống. Nhiều đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp đã thích ứng linh hoạt với nhịp sống bình thường mới bằng cách áp dụng các hình thức công chiếu trực tuyến, xuất bản điện tử. Các giải thưởng, liên hoan vinh danh tác giả, tác phẩm vẫn được tổ chức, công bố nhằm ghi nhận, động viên, khích lệ đóng góp tích cực của nghệ sĩ đối với đất nước, dân tộc. Sinh hoạt nghệ thuật diễn ra sôi nổi theo tinh thần tự do, dân chủ chính là thành quả từ quá trình đổi mới của Đảng và Nhà nước cũng như cách thức lãnh đạo, tổ chức, quản lý nghệ thuật, kết hợp với khuyến khích hoạt động sáng tạo. 

Cần khẳng định rằng Nghị quyết số 05-NQ/TW (1987) là cơ sở, là yếu tố khơi nguồn, “viên gạch móng” của tiến trình phát triển văn hóa nói chung, nghệ thuật nói riêng, với tư tưởng chỉ đạo là để phát triển văn hóa, nghệ thuật cần khai thác mạnh mẽ tiềm năng sáng tạo, bảo đảm các điều kiện để văn hóa, nghệ thuật làm tốt vai trò xã hội. Tiếp đó, Kết luận số 20-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số vấn đề trước mắt trong công tác tư tưởng đã lần đầu đặt vấn đề xây dựng Luật Báo chí, Luật Xuất bản, các luật về văn hóa, nghệ thuật nhằm thay thế các văn bản không còn phù hợp xu thế phát triển. Đó là tiền đề cho sự ra đời của Luật Báo chí 1989, Luật Xuất bản 1993, Pháp lệnh 38-L/CTN bảo hộ quyền tác giả năm 1994, Nghị định 48/1995/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động điện ảnh… Các văn bản này đã tạo ra hành lang pháp lý cơ bản, bảo đảm cho các hoạt động nghệ thuật diễn ra tự do trong khuôn khổ pháp luật. Tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” thể hiện trong nhiều tác phẩm, đặc biệt là văn chương, sân khấu ra đời cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, đã được công chúng đón nhận nồng nhiệt. Và việc luật hóa các chính sách, ngân sách của Nhà nước về hỗ trợ, đầu tư, quảng bá, bảo vệ tác giả, tác phẩm bước đầu đã giúp nghệ sĩ cải thiện thu nhập, có mức sống ổn định bằng lao động nghệ thuật chân chính. 

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đã phân tích việc xây dựng, ban hành các chính sách, bao gồm chính sách kinh tế trong văn hóa là chiến lược mới nhằm xây dựng và phát triển văn hóa. Quan điểm cho phép các thành phần kinh tế, kể cả tư nhân trong nước, thực hiện một số hình thức liên kết với một số cơ sở hoạt động văn hóa đã là cơ sở quan trọng để các cơ quan, bộ, ngành hợp tác nghiên cứu, tìm ra phương án tối ưu cho xu thế xã hội hóa nghệ thuật. Như trong lĩnh vực như điện ảnh, Quyết định 38/2002/QĐ-BVHTT của Bộ Văn hóa-Thông tin quy định về điều kiện thành lập cơ sở sản xuất phim và thẩm quyền, thủ tục duyệt phim đã góp phần tạo sự thay đổi diện mạo điện ảnh với việc cho phép thành lập cơ sở sản xuất phim tư nhân. Sự xuất hiện của các hãng phim ngoài công lập đã mang lại luồng sinh khí mới cho điện ảnh Việt Nam với một số bộ phim được đánh giá cao như: Áo lụa Hà Đông (2006), Nụ hôn thần chết (2007), Huyền thoại bất tử (2009). Quan hệ hợp tác, liên kết giữa hãng phim nhà nước và hãng phim tư nhân, hãng phim quốc tế cũng đem lại nhiều bộ phim giá trị như: Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công (2003), Mùa len trâu (2004), Hà Nội, Hà Nội (2005), Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (2015). Đồng thời, Thông tư 12/2015/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế thẩm định và cấp giấy phép phổ biến phim đã đưa ra tiêu chí phân loại phim theo lứa tuổi, giúp các nhà làm phim lựa chọn đối tượng khán giả thích hợp. 

Dù vậy, thực tế gần 35 năm thực hiện đổi mới hoạt động nghệ thuật cũng cho thấy dù thị trường nghệ thuật Việt Nam phát triển sôi động với số tác phẩm tăng nhanh nhưng lại thiếu vắng tác phẩm có giá trị; thay vì tiếp biến phù hợp với văn hóa dân tộc thì một số trào lưu như nhạc Rap, phim độc lập lại được du nhập một cách hời hợt, sao chép thô kệch. Không khó để thấy một số nghệ sĩ quá chú tâm đến chủ đề nhỏ nhặt, tầm thường, thậm chí thấp kém. Cùng với đó là tình trạng sáng tác dễ dãi, chắp vá nội dung, xào nấu ý tưởng dẫn đến hệ quả tất yếu là một số phim, cuốn sách, bài hát bị dư luận lên án. Hy hữu trước khi chiếu chính thức, các bộ phim như Cậu Vàng, Trạng Tí phiêu lưu ký đã bị số công chúng tuyên bố “không mua vé ủng hộ”. Môi trường hoạt động nghệ thuật theo cơ chế thị trường, đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao song một bộ phận ca sĩ, diễn viên, người nổi tiếng lại phát ngôn, hành xử không phù hợp thuần phong mỹ tục. Lối sống lệch chuẩn vừa ảnh hưởng xấu đến sự nghiệp của các “ngôi sao giải trí”, vừa gây thiệt hại cho sản phẩm, chương trình họ tham gia. Điển hình như sự việc nam ca sĩ Trịnh Trần Phương Tuấn (Jack) tham gia Running Man Vietnam-Chơi là chạy, đã khiến chương trình phải nhận không ít búa rìu dư luận. Vì theo cảm nhận của một bộ phận khán giả, người có đời sống tình cảm bê bối như Jack thì không nên xuất hiện trên sóng truyền hình. Đó là thí dụ gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về sự xuống cấp về đạo đức nghề nghiệp. Ngoài ra còn có những hội, nhóm nhân danh quyền tự do biểu đạt để sáng tác, truyền bá, cổ xúy tác phẩm có khuynh hướng bôi đen, bóp méo hiện thực, đi ngược lợi ích của nhân dân, đất nước. 

Trước hiện tượng tiêu cực trong nghệ thuật, thái độ tẩy chay của công chúng là điều dễ lý giải, cho thấy “gu” thưởng thức nghệ thuật, tiêu chí đánh giá của công chúng nghệ thuật đã nâng cao. Và họ còn thể hiện trong nhiều hoạt động khác như: Đề xuất coi sách là mặt hàng thiết yếu, góp ý phương án xem phim chiếu rạp an toàn, tranh luận sôi nổi trên các mạng xã hội về Dự thảo Luật Điện ảnh sửa đổi… Trên Facebook, YouTube, Tiktok, nhiều cộng đồng có số thành viên lên tới hàng chục nghìn người thường xuyên trao đổi, chia sẻ đam mê đọc sách, xem phim, nghe nhạc, thưởng thức các loại hình nghệ thuật. Qua đó công chúng tỏ rõ thái độ không chấp nhận tác phẩm “mì ăn liền”, chất lượng yếu kém, nghệ sĩ nghiệp dư cả về trình độ lẫn tác phong, ứng xử. Nếu nghệ sĩ không sớm tự thân điều chỉnh, đầu tư nghiêm túc cho sự nghiệp, thì nguy cơ bị người hâm mộ quay lưng là hiển nhiên.

Từ quan niệm “tài năng văn học, nghệ thuật là vốn quý của dân tộc” thể hiện trong Nghị quyết 23-NQ/TW (2008) về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới, toàn bộ hệ thống chính trị và cơ quan chuyên trách ở Việt Nam luôn trân trọng, khẳng định, bảo vệ đóng góp của các nghệ sĩ với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Đảng, Nhà nước luôn lắng nghe, chia sẻ các nguyện vọng chính đáng của nghệ sĩ, giúp tháo gỡ khó khăn để họ sáng tác, biểu diễn. Tuy nhiên, như mọi quyền khác của con người, tự do sáng tạo nghệ thuật cũng có giới hạn, tiêu chí riêng, quan trọng hơn là quyền đó luôn gắn liền trách nhiệm. Trách nhiệm được cụ thể hóa qua sáng tác lành mạnh, tôn vinh các giá trị chân-thiện-mỹ, luôn hướng tới nhân dân. Nói cách khác, dù tài năng thì nghệ sĩ vẫn là công dân của xã hội, quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người luôn là hai mặt thống nhất. Không thể vì tự do sáng tạo mà coi nhẹ bổn phận với công chúng, với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Nhân danh tự do sáng tạo để làm ra sản phẩm phản văn hóa, đi ngược tiến bộ, tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần của xã hội là có lỗi với công chúng. Đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân-tức là phục tùng chân lý” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, t.10. tr.378)./.

Quang Minh (nhandan.vn)

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website

Xem nhiều nhất