Một số sự kiện lịch sử về tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt - Lào năm 1951
Chương trình nghệ thuật "Tuổi trẻ Việt - Lào ấm tình keo sơn".

TỪ NGÀY 26 THÁNG 10 ĐẾN 18 THÁNG 11- 1951

Hội nghị cán bộ Việt - Lào thuộc Đảng bộ Hạ Lào và Đông Miên

Nhằm tăng cường đoàn kết kháng chiến, từ ngày 26 tháng 10 đến 18 tháng 11 năm 1951, Ban Cán sự Hạ Lào và Đông Miên tổ chức Hội nghị cán bộ thuộc Đảng bộ Hạ Lào và Đông Miên. Hội nghị tổng kết tình hình công tác từ năm 1946 đến 1951; học tập đường lối, phương châm, phương hướng và phương pháp hoạt động, chỉnh đốn lại mọi mặt tổ chức và lề lối làm việc phù hợp với tình hình cách mạng giai đoạn mới. Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Chính Giao, Bí thư Ban Cán sự Hạ Lào - Đông Miên, đọc báo cáo nêu rõ những nội dung:

1. Tóm lược quá trình xây dựng cơ sở ở Hạ Lào.

2. Những ưu điểm, khuyết điểm và thành tích đạt được trên các mặt công tác.

3. Bốn bài học kinh nghiệm quý báu rút ra trong công tác xây dựng cơ sở quần chúng cách mạng.

4. Tình hình cách mạng hiện nay và nhiệm vụ trước mắt của Ban Cán sự cần đẩy mạnh phong trào kháng chiến ở Hạ Lào.

THÁNG 11- 1951

Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra nghị quyết về danh nghĩa và nhiệm vụ của bộ đội tình nguyện Việt Nam hoạt động trên chiến trường Lào

Nhằm đáp ứng nhiệm vụ giúp cách mạng Lào trong tình hình mới, tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra nghị quyết xác định danh nghĩa và tổ chức chỉ huy của bộ đội tình nguyện Việt Nam hoạt động trên chiến trường Lào. Nghị quyết nêu rõ: bộ đội Việt Nam hoạt động ở Lào lấy tên là “Bộ đội tình nguyện Việt Nam” đặt dưới quyền chỉ huy tối cao của Chính phủ Kháng chiến Lào, mọi hoạt động phải theo đường lối chính trị, quân sự của Chính phủ Lào. Đến hoạt động, chiến đấu ở địa phương nào, cán bộ chỉ huy của các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam phải bàn bạc với chính quyền địa phương để định nhiệm vụ công tác và chiến đấu. Tuy nhiên, bộ đội tình nguyện Việt Nam vẫn dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Bộ Chỉ huy Việt Nam về mọi mặt công tác, tác chiến, huấn luyện, quản trị.

Để phù hợp với yêu cầu công tác và khả năng cấp dưỡng của nhân dân, Bộ Chính trị quy định cụ thể số lượng bộ đội ở từng khu vực như sau: Thượng Lào (cả Đông và Tây) gồm 4.000 người, Trung Lào 1.200 người, Hạ Lào 4.000 người. Do điều kiện hoạt động và sinh hoạt ở chiến trường gian khổ nên bộ đội tình nguyện Việt Nam được tổ chức theo chế độ luân lưu. Sau một thời gian hoạt động trên đất Lào, họ được rút về Việt Nam bồi dưỡng sức khỏe, chấn chỉnh trong vài tháng. Lực lượng được sắp xếp sao cho thường xuyên có 1/4 quân được hưởng chế độ luân lưu này.

Ngày 25 tháng 11 năm 1951

Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra nghị quyết về nhiệm vụ giúp Thượng Lào

Trước âm mưu và thủ đoạn thâm độc của địch, ngày 25 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã ra nghị quyết về nhiệm vụ trước mắt giúp Thượng Lào. Nhận định về âm mưu của địch và đánh giá ưu điểm, khuyết điểm của cán bộ, bộ đội tình nguyện, nghị quyết nêu rõ:

1. Để phá vỡ cơ sở kháng chiến của nhân dân Lào, địch ráo riết thực hiện âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Lào đánh người Lào”, ra sức tuyên truyền chia rẽ Lào - Việt. Chúng thành lập chính quyền bù nhìn từ trung ương xuống địa phương, dùng chiêu bài độc lập giả hiệu để lừa phỉnh nhân dân Lào.

2. Mấy năm qua, cán bộ, bộ đội tình nguyện Việt Nam đã thực sự vì cách mạng Lào, tận tụy chiến đấu hy sinh. Nhưng ở nhiều nơi, cán bộ Việt Nam còn phạm nhiều khuyết điểm, nên chưa phá được âm mưu của địch, chưa đẩy mạnh được cuộc kháng chiến của nhân dân Lào phát triển nhanh chóng.

Nguyên nhân chính của thiếu sót trên là do cán bộ Việt Nam chưa nắm vững đường lối cách mạng giải phóng dân tộc Lào, cuộc kháng chiến của nhân dân Lào căn bản phải dựa vào sức mạnh của nhân dân Lào. Cán bộ, bộ đội Việt Nam sang Lào hoạt động chính là để giúp nhân dân Lào xây dựng lực lượng kháng chiến, lực lượng cách mạng. Do không quán triệt quan điểm trên, nên cán bộ, chiến sĩ Việt Nam đã có thái độ không đúng đối với cách mạng Lào, với nhân dân và cán bộ Lào.

Nghị quyết cũng vạch rõ: nguồn gốc của lực lượng kháng chiến Lào là nhân dân Lào. Hình thức đấu tranh vũ trang lúc này ở Lào là chiến tranh du kích. Dù xây dựng hay chiến đấu đều phải nhằm phát triển chiến tranh du kích. Chống xu hướng chỉ lo tập trung đánh chính quy, đánh lớn. Trên cơ sở phân tích tương quan lực lượng giữa ta và địch, Bộ Chính trị đã đề ra cho Ban Cán sự Thượng Lào một số nhiệm vụ trước mắt chống lại âm mưu của địch như sau:

1. Củng cố cơ sở chính trị, quân sự, gây dựng cơ sở kinh tế trong vùng ta kiểm soát, đặc biệt là nơi ta đang xây dựng thành căn cứ địa. Chăm lo giác ngộ chính trị, tinh thần chiến đấu của nhân dân, đào tạo cán bộ địa phương để đủ sức chỉ đạo được các cơ sở. Củng cố dân quân du kích, các đội du kích xã, bộ đội địa phương.

2. Tuyên truyền sâu rộng trong vùng ta kiểm soát, vùng du kích, vùng bị chiếm để đoàn kết toàn dân, đoàn kết Việt - Lào - Miên chống thực dân Pháp, can thiệp Mỹ, giành độc lập thực sự.

CUỐI NĂM 1951

Đoàn 83 quân tình nguyện Việt Nam mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, quân sự

Nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, cuối năm 1951, Ban Cán sự Tây Lào trước đây và Đoàn 83 sau này liên tiếp mở các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị và công tác dân vận, quán triệt các quan điểm của Đảng, các chủ trương, chính sách của Chính phủ Kháng chiến Lào và Neo Lào Ítxalạ cho cả cán bộ tình nguyện Việt Nam và cán bộ Lào. Các lớp quân chính đào tạo cán bộ tiểu đội, do đồng chí Nguyễn Hoà làm tư lệnh trực tiếp chỉ đạo. Nội dung chủ yếu về quân sự là học kỹ thuật sử dụng một số súng bộ binh và chiến thuật cá nhân, chiến thuật phân đội nhỏ.

Về chính trị, học 10 lời thề, 12 điều kỷ luật của quân đội và công tác dân vận. Cuối năm 1951, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Hồ Hữu Lợi, Ban Tuyên huấn Đoàn 83 mở khoá đào tạo chi uỷ viên Lào đầu tiên ở Phôn Thon (Mương Phương). Tham gia có hơn 20 đảng viên cốt cán Lào do các phân khu cử tới, mỗi phân khu gồm ba đến bốn người. Thời gian học tập trong năm tuần. Đồng chí Phan Dĩnh, Trưởng Ban Tuyên huấn trực tiếp phụ trách và giảng dạy. Các đồng chí Hồ Vân, Trần Thanh (Việt kiều cũ ở Thái Lan) phiên dịch. Nội dung học tập gồm: chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; lịch sử Đảng Cộng sản Đông Dương và Điều lệ Đảng; đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi; năm bước công tác vận động quần chúng, công tác chi bộ và đạo đức cách mạng.

Kết thúc khoá học, các đảng viên Lào trở về địa phương tiếp tục mở lớp truyền đạt cho các đồng chí ở nhà, sau này nhiều đồng chí đã trở thành cán bộ lãnh đạo của Đảng bộ Lào ở các địa phương trong toàn tỉnh Viêng Chăn, một số trở thành cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và quân đội Lào.

Về quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng bộ đội cách mạng Lào trên chiến trường Lào

Sau một thời gian xây dựng, phát triển lực lượng, đến cuối năm 1951, tổng số quân Việt - Lào trên toàn chiến trường Lào năm 1951 là 8.673 người, trong đó có 7.497 quân tình nguyện Việt Nam và 1.176 bộ đội yêu nước Lào. Tổng số quân Việt - Lào được bố trí trên các chiến trường như sau:

- Bắc Lào (Đông Thượng Lào) có 4.810 người, trong đó có 210 cán bộ, chiến sĩ Lào. Thực tế chỉ có 1.850 chiến sĩ trực tiếp tham gia chiến đấu (3/4 cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện còn ở Việt Nam).

- Tây Lào có 1.390 cán bộ, chiến sĩ, trong đó có 216 cán bộ, chiến sĩ Lào (tính đến cuối năm 1950).

- Trung Lào có hơn 3.000 cán bộ, chiến sĩ (tính đến tháng 4 năm 1951). Theo chỉ thị của Trung ương, sau khi củng cố lực lượng chỉ để lại 1.000, số còn lại chuyển giao cho Liên khu 4.

- Hạ Lào có 2.300 cán bộ, chiến sĩ (tính đến tháng 2 năm 1951), trong đó có 650 cán bộ, chiến sĩ Lào và 500 thanh niên Việt kiều ở Thái Lan về tham gia chiến đấu.

(còn tiếp)

(Nguồn: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930-2007), Biên niên sự kiện, tập 1 (1930-1975), Nxb. CTQG, H, 2011).

TG

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website

Xem nhiều nhất