Quan điểm của Đại tướng Văn Tiến Dũng về sức mạnh giữ nước của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh

Đại tướng Văn Tiến Dũng (ngồi giữa) trong một buổi họp bàn phương án đánh máy bay B-52 tại Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân. (Ảnh tư liệu Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam).
Đại tướng Văn Tiến Dũng (ngồi giữa) trong một buổi họp bàn phương án đánh máy bay B-52 tại Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân. (Ảnh tư liệu Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam).
Ông không chỉ là một vị tướng quân sự, chính trị song toàn, mà còn là một nhà chiến lược quân sự tài năng, có nhiều cống hiến xuất sắc trong hoạt động thực tiễn và nghiên cứu lý luận, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc sau này. Những quan điểm của Đại tướng về sức mạnh giữ nước của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh gồm nhiều nội dung đặc sắc và phong phú là những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần được tiếp tục nghiên cứu và vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau. Với ý nghĩa đó, trong bài tham luận này, chúng tôi đi sâu làm rõ thêm những quan điểm của Đại tướng trên những vấn đề sau đây:

1. Quan điểm nổi bật về sức mạnh giữ nước của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh của Đại tướng Văn Tiến Dũng, trước hết là vấn đề lấy dân làm gốc, dựa vào nhân dân để chiến đấu chống kẻ thù xâm lược.

Để tiến hành dựng nước và giữ nước, bài học “dựa vào dân”, “lấy dân làm gốc” vừa là nền tảng, vừa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Theo đó, trong kháng chiến chống Pháp, xuất phát từ truyền thống lịch sử dân tộc và thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các chú ở đồng bằng không có rừng nhưng có nhiều dân, hãy dựa vào dân mà đánh giặc”1, đồng chí Văn Tiến Dũng khi ấy là Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đại đoàn 320 đã lãnh đạo, chỉ đạo Đại đoàn triệt để dựa vào nhân dân để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược. Trong cuộc sống thường ngày, đồng chí Văn Tiến Dũng luôn hòa mình gắn bó với quần chúng nhân dân; có quan hệ và phối hợp mật thiết với các đoàn thể trong Mặt trận. Đồng chí luôn quan tâm chăm lo xây dựng, bồi đắp tình “đoàn kết quân dân cá nước”, bảo đảm nhiệm vụ kháng chiến và giữ tác phong bàn bạc phối hợp công việc trực tiếp với các đoàn thể. Đồng chí luôn giáo dục cán bộ, chiến sĩ xây dựng tình thương yêu giai cấp, gắn bó máu thịt với nhân dân, vì cuộc sống hòa bình, độc lập và ấm no của nhân dân mà chiến đấu và xây dựng. Nhờ gần dân, biết dựa vào dân để công tác và chiến đấu, đồng chí Văn Tiến Dũng thực sự đã để lại nhiều tình cảm tốt đẹp đối với nhân dân.

2. Quan điểm về tăng cường sức mạnh quốc phòng chiến tranh nhân dân, xây dựng quân đội từng bước tiến lên chính quy, hiện đại đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, đồng chí Văn Tiến Dũng được điều về Bộ Tổng Tư lệnh cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lĩnh khác tiến hành tổng kết cuộc chiến tranh, đúc kết những vấn đề lý luận và thực tiễn để vận dụng vào sự nghiệp xây dựng quân đội theo hướng chính quy, hiện đại; đồng thời, chỉ đạo xây dựng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước theo sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ. Trong giai đoạn cách mạng mới quan trọng này, quan điểm về sức mạnh giữ nước của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh của Đại tướng Văn Tiến Dũng tiếp tục được thể hiện một cách sinh động. Đó là vấn đề ra sức xây dựng, củng cố tăng cường sức mạnh quốc phòng chiến tranh nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, từng bước tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, làm cơ sở để đấu tranh thống nhất nước nhà. Nổi bật là, tháng 4-1956, trong kế hoạch tác chiến bảo vệ miền Bắc do Bộ Tổng Tham mưu chuẩn bị trình Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy, trên cương vị là Tổng Tham mưu trưởng, đồng chí Văn Tiến Dũng đã có sự chỉ đạo sát sao, hiệu quả, qua đó Bộ Tổng Tham mưu đã có một bản kế hoạch hoàn chỉnh, là kết tinh của trí tuệ tập thể, phản ánh sát, đúng với đặc điểm tình hình miền Bắc, thể hiện đầy đủ quan điểm quân sự của Đảng, đúng với tình hình và bối cảnh quốc tế; đúng với tình hình địch, khả năng của đất nước và quân đội, đáp ứng yêu cầu của công cuộc phòng thủ miền Bắc xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới.

Đến năm 1968, khi cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc còn chưa kết thúc, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đã chỉ đạo Cục Tác chiến và Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân tiến hành dự thảo tổng kết chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại để kịp thời rút kinh nghiệm chuẩn bị cho quân và dân ta sẵn sàng đối phó với những âm mưu, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ. Những quan điểm của Thượng tướng Văn Tiến Dũng trong quá trình chỉ đạo dự thảo tổng kết chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ là những nội dung có giá trị cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, kịp thời vận dụng cho cuộc đấu tranh của quân dân miền Bắc, góp phần tạo nên những chiến thắng vang dội của Quân đội nhân dân Việt Nam và giúp quân, dân ta đánh thắng kẻ thù xâm lược.

Như vậy, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, quan điểm về sức mạnh giữ nước của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh của Đại tướng Văn Tiến Dũng được thể hiện ở sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình trên các cương vị khác nhau mà Đại tướng nắm giữ. Những quan điểm mang tầm chiến lược đó không chỉ giúp Đại tướng Văn Tiến Dũng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân giao phó mà qua đó đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận chiến tranh nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, đồng thời bổ sung vào đường lối quân sự của Đảng thời kỳ mới.

3. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, non sông liền một dải, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó bí thư thứ nhất Quân ủy Trung ương rồi Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (5-1978 / 12-1986), từ tháng 12-1986 trở đi, đồng chí được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ chỉ đạo công tác tổng kết kinh nghiệm chiến đấu và biên soạn lịch sử quân sự, trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn từ hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, quan điểm về sức mạnh giữ nước của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh của Đại tướng Văn Tiến Dũng được thể hiện ngày càng sâu sắc và toàn diện, tập trung ở những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, sức mạnh giữ nước là sức mạnh chính nghĩa của một dân tộc yêu hòa bình, yêu độc lập, tự do, có đường lối cách mạng độc lập và tự chủ, đúng đắn và sáng tạo của Đảng, quyết chiến đấu và biết chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Đây là một quan điểm nổi bật, được đúc kết hết sức khách quan và khoa học của Đại tướng Văn Tiến Dũng. Bởi trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu với biết bao kẻ thù xâm lược, nhưng với sức mạnh của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, luôn nắm vững đường lối cách mạng của Đảng, vận dụng nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước, nắm rõ chỗ mạnh, chỗ yếu của kẻ thù để tìm ra cách đánh thắng, hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất nước nhà là sức mạnh chính nghĩa của một dân tộc yêu hòa bình, yêu độc lập, tự do.

Thứ hai, sức mạnh giữ nước thời kỳ mới là sức mạnh to lớn của chế độ xã hội chủ nghĩa trong cả nước, chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động, chế độ tiên tiến nhất trong lịch sử dân tộc và lịch sử loài người.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội cùng với chế độ dân chủ nhân dân ở các vùng giải phóng, nhân dân miền Nam, nhân dân cả nước đã đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của kẻ thù. Bước vào thời kỳ mới, Đảng ta đã đề ra đường lối chung của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đề ra nhiệm vụ tăng cường chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế mới, văn hóa mới và con người mới... Tất thảy những nhân tố đó theo Đại tướng Văn Tiến Dũng tạo nên sức mạnh giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Thứ ba, sức mạnh giữ nước là sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, hiện đại, của chiến tranh nhân dân Việt Nam vô địch, với nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân hùng mạnh, trăm trận trăm thắng.

Về tổng thể, kế thừa truyền thống dân tộc và tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng trong đấu tranh cách mạng, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định nền quốc phòng toàn dân của nước ta phải do toàn dân xây dựng và dựa vào sức mạnh tổng hợp của toàn dân. Bởi vì sự nghiệp cách mạng nói chung, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc nói riêng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân; chỉ khi nào động viên, tổ chức được đông đảo nhân dân tham gia thì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc mới trở nên vững chắc. Người khẳng định: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”. Điều đó có nghĩa là sức mạnh quốc phòng, sức mạnh giữ nước phải được xây dựng trước hết từ nhân dân, từ khối đại đoàn kết toàn dân, chứ không đơn thuần chỉ là sức mạnh quân sự, sức mạnh của các lực lượng vũ trang.

Là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quán triệt tư tưởng của Người, trong giai đoạn cách mạng mới với yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra ngày càng nặng nề, Đại tướng Văn Tiến Dũng khẳng định xây dựng nền quốc phòng toàn dân nhất thiết phải dựa vào sức mạnh của toàn thể nhân dân. Đồng thời, Đại tướng cũng chỉ rõ mục đích của xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là nhằm bảo vệ độc lập, thống nhất của đất nước, bảo vệ nhà nước chuyên chính vô sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm vùng đất, vùng trời, vùng biển, từ biên giới, đất liền đến hải đảo; bảo vệ sự nghiệp xây dựng đất nước của nhân dân, góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới. Đại tướng nhấn mạnh: “Sức mạnh quốc phòng của ta vẫn phải là sức mạnh tổng hợp, thể hiện toàn bộ sức mạnh của đất nước và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa cả về chính trị, tinh thần, kinh tế, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, v.v… Sức mạnh đó là kết quả tổng hợp của cả ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, của công cuộc làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa ở nước ta”

Với chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đại tướng Văn Tiến Dũng cho rằng đó là cuộc chiến tranh toàn dân và toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước và toàn dân tộc trên cơ sở chế độ xã hội chủ nghĩa, quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công trong tự vệ. Đặc biệt, trong thế trận chiến tranh nhân dân, Đại tướng Văn Tiến Dũng nhấn mạnh đến vai trò của nhân dân trong cuộc kháng chiến. Đại tướng chỉ rõ: “Mỗi công dân Việt Nam phải là một người lao động giỏi trong xây dựng đất nước, đồng thời là một chiến sĩ kiên cường bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân ta phải thực hiện đầy đủ quyền làm chủ tập thể của mình cả trong sự nghiệp xây dựng đất và sự nghiệp bảo vệ đất nước”.

Đối với quân đội nhân dân, Đại tướng Văn Tiến Dũng yêu cầu quân đội phải luôn luôn nhận thức đầy đủ yêu cầu mới rất cao đặt ra trong nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, “bất luận trong tình hình nào, quân đội cũng phải thường xuyên đề cao cảnh giác cách mạng, ý chí chiến đấu và tinh thần làm chủ tập thể đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, luôn luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cùng nhân dân, các lực lượng vũ trang quần chúng và lực lượng công an nhân dân, kịp thời đánh bại mọi hành động của chủ nghĩa đế quốc và bè lũ tay sai xâm phạm lãnh thổ và chủ quyền nước ta, trấn áp bọn phản động, giữ vững trật tự an ninh xã hội, bảo vệ vững chắc sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân”. Quân đội phải không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, khả năng tác chiến lên một trình độ mới, sẵn sàng cùng toàn dân tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh nhân dân trong điều kiện hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong bất cứ tình huống nào. Hơn nữa, về bản chất cách mạng, Đại tướng yêu cầu, Quân đội nhân dân Việt Nam trước hết phải là một quân đội cách mạng, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, trung thành vô hạn với Đảng, với nhân dân, với Tổ quốc, với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do đó, “chúng ta cần tiếp tục coi trọng việc giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng tốt đẹp của quân đội, truyền thống quyết chiến quyết thắng, truyền thống đoàn kết và kỷ luật. Cần xây dựng quân đội ta thành một quân đội vừa chiến đấu giỏi, vừa lao động sản xuất giỏi, vừa làm công tác vận động quần chúng giỏi; không ngừng kiện toàn tổ chức đảng, chế độ công tác chính trị, không ngừng cải tiến công tác chỉ huy trong quân đội”.

Thứ tư, sức mạnh giữ nước còn là sức mạnh của nền khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam độc đáo và sáng tạo.

Nhấn mạnh sức mạnh của nền khoa học và nghệ thuật quân sự trong sức mạnh giữ nước của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, Đại tướng Văn Tiến Dũng khẳng định, khoa học và nghệ thuật quân sự trong chiến tranh giữ nước cũng như trong chiến tranh giải phóng là phải coi trọng việc đánh giá đúng chỗ mạnh, chỗ yếu của kẻ thù và của đối tượng tác chiến; đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch trong phạm vi chiến lược, chiến dịch và chiến đấu để xác định cách đánh thích hợp. Đặc biệt, thành công nổi bật thể hiện rõ tính cách mạng và khoa học của khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam là chúng ta đã giải quyết thành công vấn đề “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy ít địch nhiều” trong chiến tranh giải phóng dân tộc. Đánh giá những cống hiến của Đại tướng Văn Tiến Dũng đối với khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam, Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định: “Cả cuộc đời gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Đảng và quân đội, đồng chí Đại tướng Văn Tiến Dũng đã có nhiều đóng góp quan trọng vào thắng lợi của chiến tranh nhân dân qua các cuộc kháng chiến và vào nền khoa học và nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam”.

Như vậy, quan điểm về sức mạnh giữ nước của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh của Đại tướng Văn Tiến Dũng là những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, được tổng kết từ thực tiễn quá trình hoạt động cách mạng và bằng tư duy quân sự, chính trị sắc sảo của một vị tướng văn võ song toàn. Từ tổng thể những quan điểm được đúc kết, Đại tướng khẳng định, “chưa bao giờ đất nước ta đứng trước những triển vọng tươi sáng như lúc này. Chưa bao giờ nhân dân ta có sức mạnh giữ nước vĩ đại như ngày nay. Khi kẻ địch liều lĩnh gây nên chiến tranh lớn xâm lược nước ta thì sức mạnh đó còn tăng lên gấp bội”. Tuy nhiên, Đại tướng Văn Tiến Dũng cũng luôn nhấn mạnh giữ nước phải đi đôi với dựng nước - “đó là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta qua hàng nghìn năm lịch sử. Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với bảo vệ chủ nghĩa xã hội, đó là quy luật phổ biến của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời đại ngày nay”.

Năm tháng qua đi, nhưng quan điểm của Đại tướng Văn Tiến Dũng về sức mạnh giữ nước của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị. Trách nhiệm của chúng ta hôm nay và mai sau là phải tiếp tục phát huy, vận dụng những quan điểm mang tầm chiến lược đó của Đại tướng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”./.

Đại tá Hoàng Quang Thuận
Phó chính ủy Binh chủng Pháo binh, QĐND Việt Nam

(Nguồn: Báo QĐND)

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Tin mới nhất

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật

Xây dựng và phát triển đội ngũ cộng tác viên nhanh nhạy, góp phần nâng cao chất lượng Tạp chí Tuyên giáo

Xây dựng và phát triển đội ngũ cộng tác viên nhanh nhạy, góp phần nâng cao chất lượng Tạp chí Tuyên giáo

(TG)-Ngày 24/11, tại Vĩnh Phúc, Ban Tuyên giáo Trung ương đã tổ chức Hội nghị Cộng tác viên Tạp chí Tuyên giáo các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc Năm 2017.