Vi chất dinh dưỡng và sự cần thiết thúc đẩy thực thi Nghị định số 09/2016/NĐ-CP về tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm
Ảnh TL. (chỉ có tính minh họa)

VI CHẤT DINH DƯỠNG VÀ THỰC TRẠNG Ở NƯỚC TA

Hiện nay, nước ta có hàng triệu trẻ em bị chậm lớn, chậm phát triển trí não, có hệ miễn dịch bị suy yếu và mắc các căn bệnh do thiếu hụt VCDD. Đối với phụ nữ mang thai, việc thiếu hụt các vitamin và khoáng chất cần thiết có ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng như làm tăng nguy cơ sinh thiếu cân, khuyết tật khi sinh, thai lưu và thậm chí là tử vong. Thiếu VCDD rất khó phát hiện và được coi là “nạn đói tiềm ẩn” ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi; trong đó, trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là những đối tượng có nguy cơ cao.

Trên thực tế, tỷ lệ thiếu VCDD có sự khác biệt lớn giữa các vùng, miền trong nước. Do đó, Bộ Y tế đã tư vấn Chính phủ ban hành Nghị định 09/2016/ND-CP về bắt buộc tăng cường vi chất vào thực phẩm nhằm giải quyết tình trạng thiếu các vi chất phổ biến nhất ở người Việt Nam, bao gồm: Tăng cường I ốt vào muối ăn và muối dùng trong chế biến thực phẩm; tăng cường sắt, kẽm vào bột mì dùng trong chế biến thực phẩm và tăng cường vitamin A vào dầu ăn. Phòng chống thiếu VCDD là 1 trong 6 mục tiêu quan trọng của Chiến lược Quốc gia dinh dưỡng 2011-2020, trong đó bổ sung VCDD cho các đối tượng có nguy cơ cao là giải pháp tức thời và cần thiết để khắc phục nhanh chóng, kịp thời tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng. Bên cạnh đó, tăng cường VCDD vào thực phẩm là giải pháp trung hạn; còn đa dạng hóa bữa ăn là biện pháp cải thiện tình trạng thiếu VCDD lâu dài và bền vững.

       Mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể về cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho người dân như tỷ lệ SDD trẻ em đã giảm nhanh và bền vững (suy dinh dưỡng (SDD) thể nhẹ cân giảm từ 30,1% năm 2000 xuống còn 14,1% năm 2015 và năm 2016 tỷ lệ SDD nhẹ cân ở trẻ dưới 5 tuổi là 13,8%); chúng ta đã thanh toán được tình trạng mù lòa do thiếu vitamin A; tình trạng thiếu vitamin A huyết thanh, thiếu máu do thiếu sắt và thiếu các VCDD khác ngày càng được cải thiện; kiến thức, thực hành dinh dưỡng đúng của người dân ngày càng được nâng cao,…. nhưng chúng ta vẫn đang phải đối mặt với những thách thức như: Tỷ lệ SDD thấp còi (chiều cao theo tuổi) ở trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn ở mức cao (24,3% năm 2016) và có sự chênh lệch giữa các vùng nhất là vùng núi, vùng khó khăn và nông thôn với thành phố, đồng bằng. Tỷ lệ này ở miền núi phía Bắc là 30,3% và Tây nguyên là 34,2%. SDD thấp còi và thiếu VCDD là những nguyên nhân chính dẫn tới chiều cao thấp ở thanh niên Việt Nam. Trong khi đó, việc thực hiện chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, chế độ dinh dưỡng học đường, dinh dưỡng cho người lao động mới chỉ đạt kết quả bước đầu. Do vậy, cần nâng cao nhận thức về vai trò dinh dưỡng, dinh dưỡng hợp lý của các cấp ủy đảng, chính quyền và người dân, các bộ ngành, địa phương cần quan tâm đầu tư hơn nữa cho công tác dinh dưỡng.

          Việt Nam cũng như các nước đang phát triển, khẩu phần ăn của người dân chủ yếu dựa vào các thực phẩm có nguồn gốc từ ngũ cốc, trong đó gạo cung cấp trên 70% năng lượng khẩu phần. Những khẩu phần này thường bị thiếu hụt các axit amin và VCDD như Leucine Isoleucine, lyzin, kẽm, selenium, đây là những axit amin và chất khoáng cần thiết mà cơ thể không thể tự tổng hợp được và trong 1 số thức ăn thông thường không có. Khi thiếu axit amin và những chất khoáng này làm cho quá trình tổng hợp protein kém hiệu quả, giảm sức đề kháng bảo vệ cơ thể, giảm giá trị dinh dưỡng của bữa ăn. Tại các vùng nông thôn Việt Nam, gạo vẫn là thực phẩm cơ bản cho chế biến các bữa ăn bổ sung của trẻ nhỏ, cộng với nước mắm, mỡ, mì chính, hoặc đường kính.

Với chế độ ăn nghèo dinh dưỡng như vậy, bữa ăn của trẻ thường thiếu năng lượng, các axít amin cần thiết, đặc biệt là thiếu các vitamin và khoáng chất cho tăng trưởng và phát triển của trẻ em. Vòng xoắn bệnh lý giữa thiếu ăn, bệnh tật và SDD ngày càng nặng thêm: Thiếu lyzin, thiếu vitamin và chất khoáng... làm trẻ lười ăn, chậm lớn, giảm chức năng miễn dịch, dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn... dẫn đến SDD. Cắt đứt vòng xoắn này bằng bổ sung vitamin và VCDD giúp trẻ ăn ngon miệng hơn, tăng tốc độ phát triển thể lực, tăng khả năng miễn dịch là rất cần thiết cho phòng chống SDD ở trẻ nhỏ, đặc biệt giai đoạn ăn bổ sung 6-24 tháng tuổi.

Ngay từ đầu thập kỷ 80, các nghiên cứu lâm sàng về thực phẩm bổ sung dinh dưỡng cho trẻ nhỏ như thức ăn bổ sung có đậm độ năng lượng cao, các thức ăn có tăng cường vi chất vào thực phẩm đã được triển khai mạnh mẽ và đem 3 lại hiệu quả khả quan như bột dinh dưỡng với sự có mặt của bột ngũ cốc nảy mầm đã làm cho bột nấu chín hóa lỏng tăng cao hơn đậm độ năng lượng (Energy density) khi được nấu với cùng lượng bột khô như bình thường giúp phòng chống và phục hồi suy dinh dưỡng, bổ sung thêm 1 số VCDD vào các loại thực phẩm (Food fortification) như bánh quy, nước mắm có bổ sung sắt, kẽm, canxi, đường và mì chính/bột ngọt có bổ sung vitamin A, bột dinh dưỡng bổ sung đa vi chất.

Đó là những sản phẩm có giá trị trong cải thiện tình trạng SDD và giảm thiểu bệnh tật do thiếu VCDD trẻ em. Tuy nhiên, giá cả của các sản phẩm còn cao so với kinh tế của các vùng nghèo, do vậy rất cần có sự chung tay vào cuộc của các doanh nghiệp... Tuy nhiên, với đặc điểm thực phẩm các ở vùng núi phía Bắc, Tây nguyên và vùng nông thôn nghèo thiếu I ốt, đạm động vật (Protein) và thiếu VCDD trong chế độ ăn, hoàn cảnh kinh tế của gia đình khó khăn, bố mẹ không có nhiều thời gian chăm sóc trẻ, phụ nữ mang thai không có chế độ ăn uống và nghỉ ngơi hợp lý thì việc đảm bảo chế độ dinh dưỡng có đủ đạm, I ốt và các vitamin cần thiết là rất khó khăn, thì đây lại là một giải pháp khả thi và bền vững để phòng và chống thiếu VCDD cho trẻ em và phụ nữ có thai nói chung, đặc biệt ở Vùng núi, vùng Tây nguyên, vùng nông thôn nghèo là hết sức cần thiết. Đặc điểm của sản phẩm bổ sung này là dựa trên các thức ăn truyền thống của địa phương, giúp cải thiện tổng hợp protein và thiếu VCDD trong chế độ ăn, có giá cả hợp lý và tiện lợi khi sử dụng.

Hiện nay, các biện pháp phòng chống SDD tập trung vào 3 nhóm giải pháp chính: Tăng lượng dinh dưỡng ăn vào, bổ sung vi chất và giảm gánh nặng bệnh tật: Nhóm giải pháp thứ nhất: Tăng lượng dinh dưỡng ăn vào (cả chất lượng và số lượng), bao gồm các can thiệp: bổ sung năng lượng và protein cho phụ nữ mang thai, khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ, cải thiện chất lượng bữa ăn bổ sung cho trẻ. Nhóm giải pháp thứ hai: Bổ sung vi chất chất dinh dưỡng (vitamin, khoáng chất, axit amin…), bao gồm các can thiệp: bổ sung sắt, acid folic, 20 vitamin A, canci cho phụ nữ mang thai, bổ sung muối iốt, vitamin A và kẽm cho trẻ. Nhóm giải pháp thứ 3: Lồng ghép can thiệp dinh dưỡng với các chương trình chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng. Cải thiện khẩu phần ăn cả về chất lượng và số lượng Với trẻ em, các can thiệp nhằm khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ hợp lý làm giảm tỷ lệ tử vong trẻ. Các can thiệp tăng cường khẩu phần năng lượng của thức ăn bổ sung cũng có hiệu quả trong cải thiện cân nặng, chiều cao của trẻ em.

Chương trình thức ăn bổ sung thường cung cấp hay hỗ trợ bữa ăn hoặc thực phẩm với giá thấp hay miễn phí cho các nhóm đối tượng có nguy cơ cao với các mục tiêu sau: Để cải thiện tốc độ phát triển, tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ nói chung để tăng sức đề kháng cho nhóm có nguy cơ cao. Đặc biệt là ở các hộ gia đình có thu nhập thấp. Bổ sung vi chất trước tình hình thiếu VCDD đã trở thành một vấn đề sức khoẻ có ý nghĩa cộng đồng, việc phải tìm ra những giải pháp chiến lược để phòng, chống là một việc làm vô cùng cần thiết.