Tổng kết thực tiễn phục vụ nghiên cứu lý luận của Đảng - Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Trong suốt quá trình phát triển của mình, Đảng ta hết sức coi trọng công tác tổng kết thực tiễn. Đường lối của Đảng luôn xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo kiểm nghiệm lý luận, nhờ đó mà đủ sức soi đường, chỉ lối, đưa sự nghiệp cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đổi mới là một sự nghiệp chưa có tiền lệ và thông lệ, Đảng phải vừa làm, vừa tổng kết kinh nghiệm để không ngừng bổ sung, phát triển lý luận. Vì vậy, công tác tổng kết thực tiễn có tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động nghiên cứu lý luận của Đảng. Nhiệm vụ tổng kết thực tiễn xuất phát từ bài học lớn mà Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đã đúc kết là Đảng phải hành động theo quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn mà xây dựng đường lối, phát triển lý luận. Các nhiệm kỳ Đại hội của Đảng đều nhấn mạnh đến yêu cầu tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương, chính sách, đặc biệt là tổng kết những mô hình mới, cách làm sáng tạo từ địa phương và cơ sở để nhân rộng; tổng kết kinh nghiệm thế giới để chúng ta bớt phải đi các bước mò mẫm, thực hiện phát triển rút ngắn. Đại hội XII của Đảng đã đặt hoạt động tổng kết thực tiễn lên vị trí đầu tiên trong chu trình của công tác lý luận - tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, phát triển lý luận của Đảng. 

Tổng kết thực tiễn là một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, đồng thời là trách nhiệm của mỗi tổ chức đảng và đảng viên, trước hết là của những người làm công tác nghiên cứu lý luận nòng cốt - chuyên nghiệp. Tổng kết thực tiễn của mỗi tổ chức đảng ở từng cấp giúp đúc kết những kinh nghiệm, cách làm hay từ “điểm” mà nhân ra “diện”; giúp phát hiện những gương điển hình tiên tiến để giáo dục, nêu gương cho đảng viên và quần chúng; xem xét kinh nghiệm, cách làm hay của đơn vị khác mà vận dụng phù hợp vào địa phương, đơn vị mình. Tổng kết thực tiễn phục vụ cho nghiên cứu bổ sung, phát triển lý luận là nhiệm vụ của Trung ương Đảng, được thực hiện một cách chuyên nghiệp, thông qua những phương pháp, công cụ, quy trình đặc biệt để hình thành và phát triển đường lối, chủ trương, chính sách vĩ mô và không ngừng sáng tạo lý luận. 

Nhận thức chung về tổng kết thực tiễn phục vụ nghiên cứu bổ sung, phát triển lý luận đổi mới của Đảng

1- Vai trò của hoạt động tổng kết thực tiễn trong nghiên cứu lý luận

Tầm quan trọng đặc biệt của thực tiễn trong công tác lý luận của Đảng xuất phát từ chính vai trò của thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích và tiêu chuẩn của lý luận; từ đặc điểm của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là xây dựng một chế độ xã hội hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ, phải vừa làm, vừa tổng kết kinh nghiệm để sáng tạo lý luận. 

Thực tiễn là cơ sở của lý luận, bởi mọi tri thức được hình thành dù gián tiếp hay trực tiếp, đều có nguồn gốc từ thực tiễn. Thực tiễn là động lực của lý luận, bởi hoạt động thực tiễn làm biến đổi thế giới, biến đổi bản thân con người, làm cho con người ngày càng hoàn thiện các năng lực của chính mình, trong đó có năng lực nhận thức. Thực tiễn luôn đề ra những nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển nhận thức, đòi hỏi phải có tri thức mới, nhất là những tri thức được khái quát thành lý luận để trở lại chỉ đạo thực tiễn. Thực tiễn là mục đích của lý luận, bởi lý luận không chỉ nhằm giải thích thế giới, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người, mà cơ bản hơn là để chỉ đạo thực tiễn, cải tạo thế giới. Thực tiễn là điểm khởi nguồn của lý luận và cũng là đích trở về của lý luận, nơi kiểm nghiệm tính chân lý của lý luận. Hồ Chí Minh giải thích: “Hiểu biết do thực hành mà ra. Hiểu biết lại trải qua thực hành mà thành lý luận. Lý luận ấy lại phải dùng vào thực hành”(1) . Rồi Người khái quát lại: “Thực hành sinh ra hiểu hiết. Hiểu biết tiến lên lý luận. Lý luận lãnh đạo thực hành”(2). Thực tiễn là tiêu chuẩn đánh giá sự đúng, sai của lý luận. Tri thức của con người là kết quả của quá trình nhận thức. Tri thức ấy có thể phản ánh đúng hoặc không đúng hiện thực khách quan. Chỉ có thực tiễn mới là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm. Cho nên, C.Mác trong Luận cương về Phoi-ơ-bắc đã khẳng định: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý, nghĩa là chứng minh tính hiện thực và sức mạnh, tính trần tục của tư duy của mình. Sự tranh cãi về tính hiện thực hay tính không hiện thực của tư duy tách rời thực tiễn, là một vấn đề kinh viện thuần túy”(3). Vì vậy, thống nhất giữa lý luận với thực tiễn là một nguyên tắc quan trọng trong lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, có giá trị to lớn trong chỉ đạo công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn. Thoát ly nguyên tắc này lý luận sẽ rơi vào chủ nghĩa giáo điều, thiếu sức sống, không đủ năng lực chỉ đạo thực tiễn; hoạt động thực tiễn cũng rơi vũng lầy của chủ nghĩa kinh nghiệm hoặc chủ nghĩa giáo điều thực tiễn. Trên ý nghĩa đó, V.I.Lê-nin chỉ rõ: “Muốn hiểu biết thì phải bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu từ kinh nghiệm, từ kinh nghiệm mà đi đến cái chung”(4). 

Lý luận phản ánh hiện thực khách quan, nhưng không phản ánh một cách giản đơn, máy móc, mà phản ánh ở trình độ cao của nhận thức thông qua trừu tượng hóa khách thể. Phản ánh của lý luận là phản ánh gián tiếp, chủ thể nhận thức phải thông qua những phương pháp khoa học nghiêm cẩn thì mới có thể nhận thức đúng đắn hiện thực, mà ở đó tổng kết thực tiễn chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. “Tổng kết thực tiễn là phương pháp căn bản trong hoạt động lý luận, là một phương pháp căn bản để khắc phục chủ nghĩa giáo điều và cả chủ nghĩa kinh nghiệm, để thực hiện sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn mà đúc kết, khái quát lên. Lý luận xét cho cùng là từ thực tiễn mà đúc kết, khái quát lên. Không có thực tiễn và kinh nghiệm thực tiễn thì không có lý luận”(5). Xây dựng chủ nghĩa xã hội là xây dựng một xã hội hoàn toàn mới chưa có tiền lệ trong lịch sử dân tộc. Để không rơi vào chủ quan duy ý chí, đường lối, chủ trương, chính sách luôn phải phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế thời đại, đòi hỏi phải luôn coi trọng tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển lý luận. Vì lẽ đó, nghiên cứu lý luận theo nghĩa rộng đương nhiên phải bao hàm cả hoạt động tổng kết thực tiễn. Đó là nhiệm vụ rất khó khăn và nặng nề, đòi hỏi được đầu tư xứng đáng nguồn lực và chủ thể tiến hành phải có những tố chất, phẩm chất và phương pháp chuyên biệt. 

Nghiên cứu lý luận theo nghĩa rộng bao gồm từ nghiên cứu lý luận cơ bản, nghiên cứu lý luận chính trị, nghiên cứu lý luận chuyên ngành, nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn. Nghiên cứu lý luận cơ bản có đối tượng cụ thể là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không phải toàn bộ các tri thức, quan điểm của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin, Hồ Chí Minh đều là đối tượng của nghiên cứu lý luận cơ bản, mà chỉ những bộ phận chủ yếu nhất, khái quát nhất dưới hình thức các nguyên lý, phạm trù, khái niệm, quan điểm, luận điểm, tri thức,... có ý nghĩa làm thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta. Nghiên cứu lý luận chính trị là nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - kết quả của sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, là thành quả sáng tạo lý luận của Đảng ta trên mảnh đất hiện thực dân tộc Việt Nam. Nghiên cứu khoa học có phạm vi rất rộng, thuộc nhiệm vụ của nhiều ngành khoa học khác nhau, từ khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và khoa học nhân văn. Mỗi bước tiến của khoa học có ý nghĩa trực tiếp cho phát triển lý luận chuyên ngành, có giá trị chỉ đạo trên từng chuyên ngành cụ thể (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, môi trường...), gián tiếp cung cấp tri thức cho bổ sung, phát triển lý luận chính trị. Công tác lý luận không bao quát toàn bộ các kết quả nghiên cứu khoa học mà chỉ chắt lọc, tổ hợp, liên kết những tri thức có giá trị cho bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác- Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đặc biệt là kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm lịch sử, bài học của các đảng cộng sản trên thế giới, các giá trị tiến bộ, những xu thế lớn thế giới tác động tới Việt Nam... Tổng kết thực tiễn là một bộ phận hợp thành của công tác lý luận, bởi không có tổng kết thực tiễn thì công tác lý luận chỉ giới hạn ở địa hạt nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu thuyết minh cho cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết sẵn có. Tổng kết thực tiễn, sở dĩ tách thành một nội dung riêng được đặt trong tương quan với nghiên cứu lý luận, thậm chí Đại hội XII đã đưa lên vị trí hàng đầu, để nhấn mạnh tầm quan trọng của nó đối với sự hình thành và phát triển lý luận gắn với điều kiện cụ thể công cuộc đổi mới khi phải khắc phục tình trạng xơ cứng lý luận và xác định những phương thức tiến hành đặc thù, huy động nguồn lực đầu tư xứng đáng, khắc phục tình trạng nghiên cứu chỉ giới hạn trong sách vở, thiếu gắn kết với thực tiễn. 

2- Khách thể, đối tượng, nội dung và phương pháp tổng kết thực tiễn phục vụ cho nghiên cứu bổ sung, phát triển lý luận

Nếu khách thể trừu tượng của hoạt động nghiên cứu lý luận phản ánh một cách gián tiếp hiện thực khách quan, biểu đạt dưới các nguyên lý, phạm trù, quy luật, khái niệm, quan điểm, đường lối, chủ trương,... thì khách thể của hoạt động tổng kết thực tiễn rất cụ thể, sống động, phản ánh trực tiếp những thuộc tính, tính chất của đối tượng tác động đến chủ thể nhận thức. Phạm vi của hoạt động thực tiễn bao gồm từ hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học (gồm cả thực nghiệm xã hội); từ thực tiễn trong nước đến thực tiễn thế giới; từ những vấn đề đương đại đến những di tồn và di sản lịch sử đang tác động đến hiện tại. Trong phạm vi khách thể rộng lớn ấy, công tác tổng kết thực tiễn phải tập trung phục vụ cho yêu cầu xây dựng, bổ sung và phát triển lý luận. 

Công tác tổng kết thực tiễn phải bao quát khách thể rộng lớn của nó từ hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội đến hoạt động thực nghiệm khoa học, mấu chốt là phát hiện các mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và đề xuất cách thức hóa giải mâu thuẫn, thúc đẩy sự vật không ngừng phát triển. Hoạt động thực tiễn rất phong phú, công tác tổng kết thực tiễn không phải bao sân toàn bộ nhiệm vụ của các ngành khoa học, càng không được sa vào những vấn đề vụn vặt, mà chỉ tập trung ở những vấn đề căn bản nhất với mục tiêu tìm tòi, xây dựng, phát triển mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tổng kết thực tiễn không chỉ phát hiện các mô hình, cách làm mới cần nâng tầm bài học, mà còn phải xem xét sự vận động của lý luận trong thực tiễn, lấy thực tiễn để kiểm nghiệm lý luận, đặc biệt là những vấn đề có độ vênh, có khoảng cách giữa lý luận và thực tế. Vì vậy, hoạt động nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn phải được tích hợp theo kiểu “hai trong một”, còn gọi là hoạt động tổng kết thực tiễn - lý luận hoặc tổng kết lý luận - thực tiễn. Trên ý nghĩa đó, nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn như “hai mặt của một đồng xu”, không thể tách rời chúng một cách cơ học, càng không được đối lập chúng với nhau. 

Đối tượng của công tác tổng kết thực tiễn là hệ thống tri thức kinh nghiệm nảy sinh từ hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học. Chúng được phân biệt với đối tượng của nghiên cứu lý luận là tri thức lý luận gắn với thao tác tư duy trừu tượng để khái quát hóa, liên kết tri thức mà hình thành nên tư tưởng, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách. Ở đây, cần phân biệt giữa hoạt động tổng kết thực tiễn ở tầm lý luận với tổng kết thực tiễn thông thường. Hoạt động tổng kết của một đơn vị, địa phương, ngành là tổng kết thực tiễn thông thường, có mục tiêu phục vụ trực tiếp cho lãnh đạo, quản lý, điều hành cụ thể. Còn tổng kết thực tiễn phục vụ nghiên cứu lý luận phải được tiến hành từ “điểm” đến “diện”, từ hẹp đến rộng, từ nghiên cứu hiện tượng đến rút ra bản chất, quy luật theo phương pháp quy nạp, rồi nâng dần từ tri thức kinh nghiệm thành tri thức lý luận. 

Nếu phân chia tri thức kinh nghiệm theo trình độ phát triển của tư duy thì có tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học. Tri thức kinh nghiệm thông thường được hình thành trực tiếp trong đời sống sinh hoạt và sản xuất, được lưu giữ và trao truyền qua trí nhớ, thực hành, biểu hiện rất phong phú trong mỗi cá nhân con người và cộng đồng dân cư (tri thức dân gian, tri thức tộc người, tri thức địa phương). Tri thức kinh nghiệm khoa học thu nhận được từ kết quả các thí nghiệm khoa học, thực nghiệm xã hội - cơ sở quan trọng cho nhận thức lý luận. Trong công tác tổng kết thực tiễn phải coi trọng cả tri thức kinh nghiệm thông thường (tiền khoa học) và tri thức kinh nghiệm khoa học, trong đó đặc biệt chú ý đến tri thức kinh nghiệm khoa học. 

Nếu phân chia tri thức kinh nghiệm theo phương thức phản ánh giữa khách thể với chủ thể nhận thức thì có tri thức kinh nghiệm gián tiếp và tri thức kinh nghiệm trực tiếp. Tri thức kinh nghiệm gián tiếp là kinh nghiệm nước ngoài và kinh nghiệm do lịch sử để lại. Tri thức kinh nghiệm trực tiếp là kinh nghiệm trong nước và kinh nghiệm do chủ thể nhận thức tự đúc kết được qua thực hành hoặc nghiên cứu chuyên biệt. Tổng kết thực tiễn phải hướng trọng điểm vào tổng kết kinh nghiệm trực tiếp, tức những tri thức thu được qua thực hành và kinh nghiệm trong nước. Còn đối với kinh nghiệm gián tiếp thì chỉ nghiên cứu những gì có tác động đến trong nước (kinh nghiệm nước ngoài), đến hiện tại (kinh nghiệm lịch sử). Hồ Chí Minh đã có chỉ dẫn rất quan trọng về thái độ ứng xử đối với kinh nghiệm gián tiếp: “Nếu những hiểu biết, những kinh nghiệm ấy hợp với điều kiện khách quan thì nó đúng và có thể tin. Nếu không, thì không thể tin”(6). Điều này cho thấy, trong công tác tổng kết thực tiễn phải xem trọng điểm là tổng kết kinh nghiệm trực tiếp, bởi chúng là những tri thức mang đặc tính dân tộc, mang “hơi thở của cuộc sống”. Song, không xem nhẹ kinh nghiệm gián tiếp, bởi bất cứ một vấn đề gì của dân tộc đều không thể tách rời với thế giới, nhất là thế giới toàn cầu hóa; không có sự kiện nào của hiện tại lại có thể tách rời khỏi quá khứ. Cần phải phân tích kỹ lưỡng kinh nghiệm lịch sử trong nước và kinh nghiệm nước ngoài, tránh vận dụng máy móc và rơi vào chủ nghĩa phục cổ hoặc giáo điều thực tiễn. 

Chủ thể tổng kết thực tiễn là cấp ủy các cấp, tùy theo tính chất, nhiệm vụ của từng cấp mà đặt ra những yêu cầu riêng cho tổng kết thực tiễn. Song, tổng kết thực tiễn ở tầm lý luận là trách nhiệm của toàn Đảng, trước hết là của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trong đó bộ phận đóng vai trò chuyên trách nòng cốt là các cơ quan tham mưu chiến lược của Đảng... Sở dĩ phải nhấn mạnh điều này bởi chỉ có cấp Trung ương mới có thẩm quyền hoạch định, sửa đổi, bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương, chính sách, gắn liền với hoạt động tổng kết thực tiễn. Hoạt động tổng kết thực tiễn của các ngành, địa phương, đơn vị có góp phần vào nghiên cứu lý luận, nhưng mục tiêu trước hết là phục vụ cho lãnh đạo, quản lý, điều hành trực tiếp, bảo đảm cho đường lối, chủ trương, chính sách vận dụng vào điều kiện cụ thể được tối ưu hóa. Mặt khác, tổng kết thực tiễn của địa phương, ngành phục vụ cho hoạch định các chủ trương mang tính địa phương và ngành, do phân cấp, phân quyền quy định, nhờ đó giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến và cái đặc thù. Tri thức lý luận được trừu tượng hóa và khái quát hóa rất cao, nhưng trong thực tiễn không có những khách thể trừu tượng như vậy. Do vậy, giữa lý luận và thực tiễn luôn có khoảng cách mà khỏa lấp chúng rất cần đến vai trò của tri thức kinh nghiệm thu được từ tổng kết thực tiễn ở từng địa bàn, từng cấp, từng ngành. Nó làm cho lý luận đi vào cuộc sống một cách sống động, phù hợp, thích nghi với thay đổi nhanh chóng của thực tiễn. Nói cách khác, tri thức kinh nghiệm thu nhận được từ tổng kết thực tiễn ở từng địa phương, ngành, cơ quan, đơn vị đóng vai trò trung gian để lý luận thực hiện có hiệu quả vai trò định hướng và chỉ đạo thực tiễn. Mặt khác, tổng kết thực tiễn của địa phương, ngành có vai trò phát hiện những mô hình mới, cách làm hay để phổ biến, nhân rộng, bổ sung, phát triển lý luận chính trị. Vì vậy, phân định rõ ràng trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương, giữa các ngành và cơ quan chuyên trách nòng cốt,... là những vấn đề lớn trong tổ chức lực lượng và phân bổ nguồn lực phục vụ cho công tác tổng kết thực tiễn gắn với nghiên cứu lý luận. 

Nội dung tổng kết thực tiễn rất phong phú, đa dạng: Đó là tổng kết những mô hình tự phát trong thực tế; tổng kết những mô hình thí điểm; tổng kết một phong trào hay cuộc vận động được hình thành từ sáng kiến của quần chúng hay khởi xướng bắt đầu từ một chỉ thị, nghị quyết, quyết định lãnh đạo, quản lý; tổng kết gương điển hình tiên tiến... Phạm vi tổng kết có thể là một tổ chức, một địa phương, một phân hệ - lĩnh vực và rộng nhất là toàn quốc. Tổng kết thực tiễn phục vụ nghiên cứu lý luận phải bao quát các nội dung đó nhưng ở mức độ khái quát hóa, tổng hợp hóa cho hình thành khái niệm, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của toàn Đảng, mô hình phát triển của đất nước. Để khái quát hóa, tổng hợp hóa trong tổng kết thực tiễn - lý luận đòi hỏi phải đi từ cái cụ thể đến cái trừu tượng, từ “điểm” đến “diện”, từ hẹp đến rộng, từ hiện tượng đến bản chất. Mục đích là đề ra được những nhiệm vụ lý luận có ý nghĩa dẫn đường, chỉ đạo thực tiễn phù hợp ở từng chặng đường và ngày càng hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, bảo đảm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. 

Khác với các phương pháp nghiên cứu lý thuyết phải sử dụng các thao tác trừu tượng hóa, khái quát hóa, phương pháp tổng kết thực tiễn phải tìm hiểu tính cụ thể trực tiếp thuộc tính, tính chất của sự vật, hiện tượng. Theo đó, các phương pháp sau đây thường được sử dụng phổ biến phục vụ cho tổng kết thực tiễn: quan sát, điều tra, thực nghiệm, phân tích và tổng kết kinh nghiệm, phương pháp chuyên gia. Quan sát là phương pháp tri thức đối tượng một cách có hệ thống bằng các giác quan để thu thập thông tin đối tượng, bao gồm cả quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp. Điều tra (điền dã thực tế, điều tra bằng phiếu, phỏng vấn...) là phương pháp khảo sát đối tượng trên một diện rộng theo mẫu xác định, để phát hiện quy luật phân bố và nhận dạng đặc điểm đối tượng. Thực nghiệm là phương pháp mà chủ thể tác động vào đối tượng và quá trình diễn biến của đối tượng để hướng sự phát triển của chúng theo mục tiêu xác định, khẳng định hoặc bác bỏ giả thuyết ban đầu, nếu hợp lý sẽ áp dụng trên diện rộng, nếu bất hợp lý sẽ loại bỏ. Phân tích và tổng kết kinh nghiệm là phương pháp xem xét lại thành quả hoạt động thực tiễn trong quá khứ để rút ra kết luận khoa học - thực tiễn, được tiến hành bằng đem lý luận phân tích thực tế và từ thực tế rút ra lý luận cao hơn. Phương pháp chuyên gia là sử dụng đội ngũ trí thức chuyên ngành và liên ngành để phân tích, làm rõ bản chất của đối tượng, tìm ra giải pháp tối ưu. Trong các phương pháp trên thì phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm và phương pháp chuyên gia là bước chuẩn bị cho trừu xuất, khái quát các dữ liệu, sự kiện, tài liệu thành tri thức lý luận. 

Hoạt động tổng kết thực tiễn phục vụ nghiên cứu bổ sung, phát triển lý luận đổi mới của Đảng hiện nay

1- Kết quả đổi mới công tác tổng kết thực tiễn phục vụ nghiên cứu bổ sung, phát triển lý luận thời gian qua

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng ta rất coi trọng tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển lý luận. Nhờ thường xuyên tổng kết thực tiễn mà đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng luôn phù hợp với thực tiễn, đủ năng lực chỉ đạo thực tiễn, được kiểm chứng bằng những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam. Kinh nghiệm lịch sử cũng chỉ ra rằng, những lúc xa rời thực tiễn thì không nắm bắt được quy luật khách quan, rơi vào sai lầm, khuyết điểm của chủ nghĩa giáo điều. Thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới hơn 30 năm qua có một nguyên nhân bắt nguồn từ chỗ Đảng ta luôn bám sát thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, coi trọng tổng kết thực tiễn để không ngừng bổ sung, phát triển lý luận, lấy thực tiễn để kiểm nghiệm lý luận. 

Chính vì vậy, trong công tác lý luận, Đảng ta ngày càng nhận thức rõ và đề cao vai trò, vị trí của hoạt động tổng kết thực tiễn. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (tháng 3-2002) “Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới” đã khẳng định phải “Coi trọng việc tổng kết thực tiễn trong nghiên cứu lý luận và trong hoạt động của các cấp ủy đảng; coi tổng kết thực tiễn là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp, các ngành; gắn nghiên cứu thực tiễn Việt Nam với tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học của nhân loại”(7). Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với quy luật khách quan và đặc điểm của Việt Nam, tạo bước đột phá để phát triển”(8). phải “đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”(9). Từ quan điểm đó, việc tổng kết thực tiễn phục vụ cho nghiên cứu lý luận được tiến hành cơ bản hơn, với sự tham gia của nhiều lực lượng, nhiều thành phần, đặc biệt trong quá trình chuẩn bị xây dựng văn kiện các đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, nghị quyết hội nghị Trung ương, sơ - tổng kết các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, chỉ thị của Ban Bí thư sau một chu trình vận hành (5 năm, 10 năm). Các đợt tổng kết thực tiễn- lý luận 20 năm và 30 năm đổi mới, Trung ương đã thành lập Ban Chỉ đạo, tổ chức các tiểu ban chuyên đề, cử nhiều đoàn khảo sát đến các địa phương, doanh nghiệp, tiến hành nhiều hội thảo quốc gia... để nắm bắt thực tiễn, bổ sung và phát triển đường lối, chủ trương của Đảng. Trong chương trình làm việc toàn khóa của Ban Chấp hành Trung ương các nhiệm kỳ, để chuẩn bị ban hành một nghị quyết, kết luận, Trung ương đều thành lập ban chỉ đạo xây dựng các đề án, thu hút đông đảo các nhà lãnh đạo, quản lý và chuyên gia khoa học, có nhiệm vụ tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng. Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng sau một chu trình vận hành (5, 10 năm) đều được sơ - tổng kết để tiếp tục điều chỉnh, bổ sung trong chu trình mới hoặc ban hành văn bản mới để nâng cao hơn năng lực chỉ đạo thực tiễn. 

Nội dung tổng kết thực tiễn những năm qua rất phong phú, đa dạng với nhiều cấp độ khác nhau, từ những “đại vấn đề” đến các mô hình cụ thể. Qua hơn 30 năm đổi mới, nhìn tổng thể, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng rõ hơn, trong đó có đóng góp quan trọng của hoạt động tổng kết thực tiễn, đặc biệt đối với những vấn đề lớn trong nhận thức về lý luận, như xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế trong cục diện và trật tự thế giới mới; đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; vấn đề bản chất và tính tiên phong của Đảng; vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân; ba đột phá chiến lược cho phát triển của đất nước; quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước đi và từng chính sách phát triển; kiên quyết và kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ phù hợp với luật pháp quốc tế; kiểm soát quyền lực, thực hiện giám sát và phản biện xã hội;... Trên từng hệ vấn đề, qua các đợt chuẩn bị văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, tổng kết 10, 20, 30 năm đổi mới, hoạt động tổng kết thực tiễn đều được tiến hành bài bản gắn với nghiên cứu lý luận, nghiên cứu khoa học. Mỗi nghị quyết, chỉ thị, Trung ương đều được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận. 

Trách nhiệm của cấp ủy đảng các cấp, các ngành trong tổng kết thực tiễn ngày càng được quy định rõ hơn. Trên cơ sở thẩm quyền được phân định, cấp ủy đảng các cấp ra sức kiện toàn các cơ quan tham mưu có nhiệm vụ chuyên trách nòng cốt trong tổng kết thực tiễn, xây dựng kế hoạch tổng kết các nội dung theo chương trình làm việc toàn khóa. Tổng kết thực tiễn phục vụ cho nghiên cứu lý luận được xác định là trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trong đó các cơ quan tham mưu chiến lược đóng vai trò chuyên trách nòng cốt là Hội đồng Lý luận Trung ương, các ban đảng (Tổ chức, Tuyên giáo, Kinh tế, Dân vận, Kiểm tra, Nội chính), cơ quan nghiên cứu lý luận và chính trị của Đảng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam...) ngày càng được tăng cường nguồn lực, định hình phương pháp và tiến hành tổng kết thực tiễn có nền nếp. Từ tháng 10-1996, Hội đồng Lý luận Trung ương được thành lập, có nhiệm vụ làm đầu mối tập hợp các lực lượng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tư vấn cho Trung ương những vấn đề về lý luận chính trị phục vụ xây dựng đường lối, chủ trương và định hướng chính sách lớn của Đảng. Hoạt động nghiên cứu lý luận, khoa học của các học viện, các trường ngày càng chú ý nhiều hơn đến nhiệm vụ tổng kết thực tiễn. Phối hợp giữa Trung ương với các địa phương, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị chiến đấu trong tổng kết thực tiễn diễn ra thường xuyên, đa dạng hóa về phương thức. Ngày 3-2-2018, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Hướng dẫn số 02-HD/TW về tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, trong đó đã làm rõ mục đích, yêu cầu, đối tượng, phạm vi, nội dung, cách thức tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. Đặc biệt, Hướng dẫn đã làm rõ trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu các cấp trong tổng kết thực tiễn. 

Đội ngũ cán bộ tổng kết thực tiễn ngày càng được tăng cường về số lượng, nâng cao hơn về chất lượng. Có thể thấy, các lực lượng sau đây tham gia tổng kết thực tiễn: 1- Người đứng đầu và cấp ủy đảng các cấp có nhiệm vụ tổng kết thực tiễn quá trình triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối trong đơn vị, địa phương, ngành mình để phục vụ cho nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện và phản hồi với cấp có thẩm quyền điều chỉnh chính sách nếu chưa phù hợp; 2- Đội ngũ các nhà nghiên cứu lý luận, trong quá trình nghiên cứu lý luận thì tổng kết thực tiễn luôn được xem là một cấu phần không thể tách rời, chủ yếu ở các hội đồng tư vấn, học viện, nhà trường, viện nghiên cứu; 3- Đội ngũ chuyên gia, chuyên viên cao cấp ở các ban đảng Trung ương và địa phương, trong quá trình xây dựng các đề án phục vụ cho Bộ Chính trị, Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy, gắn với nghiên cứu lý luận thì tổng kết thực tiễn là một nhiệm vụ quan trọng. Mỗi lực lượng nêu trên có vai trò riêng trong tổng kết thực tiễn, có thể gắn với lãnh đạo điều hành, gắn với đào tạo và truyền bá lý luận, cung cấp luận cứ khoa học, gắn với tham mưu đề án cụ thể trên từng vấn đề. Điểm đáng chú ý là đội ngũ cán bộ tổng kết thực tiễn ngày càng được nâng cao hơn về chất lượng, trình độ, trang bị các phương pháp phục vụ cho tổng kết thực tiễn. Đảng và Nhà nước cũng dành nhiều nguồn lực đầu tư cho công tác tổng kết thực tiễn, bao gồm cả đào tạo nguồn nhân lực cũng như kinh phí triển khai các đề tài, dự án, đề án. 

Phương pháp, cách thức tiến hành tổng kết thực tiễn ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Có thể thấy, các cách thức sau đây được áp dụng khá phổ biến trong những năm qua phục vụ cho tổng kết thực tiễn: 1- Tổng kết thực tiễn được lồng ghép trong nghiên cứu lý luận cơ bản, lấy lý luận cơ bản soi chiếu vào thực tiễn, nhằm phát hiện những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh, những vấn đề mà lý luận có độ trẽ hoặc khoảng trống cần phải được bổ sung, phát triển; 2- Tổng kết thực tiễn gắn với nghiên cứu khoa học, thông thường là sử dụng các lý thuyết mới để phân tích, đánh giá thực tiễn cũng như khảo sát tình hình thực tiễn để làm tăng thêm sức thuyết phục cho các luận cứ khoa học; 3- Tổng kết thực tiễn được thực hiện thông qua đánh giá các mô hình thí điểm trong thực tế, đặc biệt là những vấn đề còn nhận thức khác nhau, phải chọn làm điểm để từng bước rút kinh nghiệm, triển khai đại trà hay không, như vấn đề nhất thể hóa người đứng đầu cấp ủy và chính quyền địa phương; 4- Tổng kết thực tiễn được thực hiện trong xây dựng các đề án trình Trung ương, Bộ Chính trị, Chính phủ, Quốc hội,... với rất nhiều hoạt động khác nhau, tham gia của đa chủ thể, thường do ban cán sự đảng, đảng đoàn, các ban đảng tiến hành, sản phẩm đầu ra là các nghị quyết, kết luận của Trung ương; 5- Tổng kết các gương điển hình tiên tiến, cách làm hay, mô hình mới, được thực hiện bởi cá nhân nhà khoa học hay phản ánh trên báo chí, tổ chức thi đua- khen thưởng. Có thể thấy, với nhiều cách thức nêu trên tổng kết thực tiễn ngày càng gắn bó chặt chẽ với hoạt động nghiên cứu lý luận, nghiên cứu khoa học, xây dựng các đề án của Trung ương và địa phương, hoạt động truyền thông, thi đua- khen thưởng, tôn vinh các nhân tố mới. 

Phối hợp giữa các chủ thể và đối tác tham gia trong tổng kết thực tiễn ngày càng chặt chẽ hơn. Đáng chú ý là phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu lý luận, khoa học chuyên nghiệp với các cơ quan tổ chức thực tiễn, giữa các ban/ngành Trung ương và các tỉnh/thành ủy, giữa cơ quan tư vấn và cơ quan hoạch định chính sách. Nhiều hoạt động tổng kết thực tiễn còn có sự tham gia của các đối tác quốc tế, các cơ quan tài trợ trong nước, nhất là với những vấn đề mới cần hỗ trợ cả về công nghệ, phương pháp đánh giá và nguồn lực đầu tư. Các hoạt động tổng kết thực tiễn ngày càng gắn kết với các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, tạo ảnh hưởng lan tỏa của các mô hình mới, cách làm hay, gương điển hình tiên tiến. Các hình thức tổ chức sự kiện để tôn vinh các nhân tố mới, gương điển hình tiên tiến và khen thưởng kịp thời càng làm cho tổng kết thực tiễn thêm sinh động, không chỉ ở các sự việc, ở tổ chức, mà còn hiện diện ở cả những con người cụ thể. Suy cho cùng, đích cần đến của sản phẩm tổng kết thực tiễn chính là đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, vì vậy, cơ chế bảo đảm cho kết quả nghiên cứu, tổng kết được dẫn nhập vào nghị trình của đường lối, chính sách là rất quan trọng. Các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đã chú ý lắng nghe các báo cáo kiến nghị từ thực tiễn, nhất là các mô hình mới, cách làm hay, gương điển hình tiên tiến. Lãnh đạo các cấp ngày càng chú trọng sử dụng chuyên gia để tư vấn những vấn đề cả lý luận và thực tiễn cũng như xây dựng cơ chế tiếp xúc, đối thoại, tham vấn chính sách sâu sát cơ sở, lắng nghe ý kiến của nhân dân, xem xét các thông tin trên báo chí,... nhằm bổ sung thêm các dữ liệu, thông tin cho ban hành các chủ trương, quyết sách quan trọng.

Môi trường cho tổng kết thực tiễn gắn với nghiên cứu lý luận, nghiên cứu khoa học đã được cải thiện nhất định. Đối với những vấn đề lý luận trước đây được xem là cấm kỵ, còn nhận thức khác nhau thì Đảng đã mạnh dạn cho phép thực hiện thí điểm rồi tổng kết thực tiễn, như đảng viên làm kinh tế tư nhân, nhất thể hóa người đứng đầu cấp ủy và chính quyền cơ sở, quan hệ đối tác công - tư, phân cấp cho chính quyền địa phương... Việc dịch thuật, du nhập các lý thuyết học thuật đa dạng cũng giúp cho những người làm công tác tổng kết thực tiễn có cách nhìn mới mẻ, có lý thuyết công cụ và phương pháp phục vụ cho tổng kết thực tiễn. Dân chủ hóa trong nghiên cứu khoa học giúp cho nhiều vấn đề được đưa ra thảo luận, tranh luận cả trên báo chí, hội thảo trước khi có kết luận. 

2- Hạn chế và nguyên nhân 

Bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được nêu trên, cần phải thẳng thắn thấy rằng, tổng kết thực tiễn phục vụ nghiên cứu lý luận vẫn còn không ít hạn chế. Nhìn chung, hoạt động tổng kết thực tiễn chưa được tiến hành một cách chuyên nghiệp, thiếu đội ngũ chuyên trách đủ số lượng và chất lượng cần thiết phục vụ cho công tác này. Tổng kết thực tiễn là hoạt động khoa học - thực tiễn đặc thù nhưng còn thiếu phương pháp luận và khung lý thuyết xác định (khách thể, đối tượng, phạm vi, phương pháp, công cụ, phương tiện, mối quan hệ giữa tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận, giáo dục lý luận, nghiên cứu khoa học, hoạch định đường lối...) làm cơ sở cho cấp ủy các cấp chủ động tiến hành. Vì thiếu phương pháp luận và khung lý thuyết thống nhất, những người làm công tác tổng kết thực tiễn không được bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu, tiến hành tổng kết thực tiễn thiếu chuyên nghiệp. Do đó, khi cần huy động lực lượng tham gia một nhiệm vụ tổng kết thực tiễn nào đó thường rất thiếu chuyên gia làm nòng cốt, khi có yêu cầu nhiệm vụ thì nhiều nơi tiến hành chiếu lệ, hình thức, không thu được kết quả tích cực. Thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể và lực lượng tham gia tiến hành tổng kết thực tiễn chưa được phân định rành mạch. Thông thường, khi đứng trước yêu cầu nhiệm vụ được giao, các cơ quan đều thành lập ban chỉ đạo đủ cơ cấu thành phần nhưng thiếu chuyên gia nòng cốt hiểu sâu sắc về lý luận, am tường về thực tiễn, thành thục về phương pháp. 

Rõ ràng, công tác tổng kết thực tiễn dù đã được coi trọng nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu bổ sung, phát triển lý luận. Không ít vấn đề thực tiễn đã mở đường, thậm chí đã được tiến hành thí điểm nhiều năm, nhưng công tác tổng kết thực tiễn vẫn chưa có kết luận rõ ràng (như vấn đề nhất thể hóa chức danh lãnh đạo, mô hình chính quyền đô thị...). Hoạt động tổng kết thực tiễn của cấp ủy tại nhiều địa phương diễn ra hình thức, nên sản phẩm tổng kết thực tiễn chỉ dừng lại ở những báo cáo hành chính xơ cứng mà không có khả năng tri thức hóa hoặc chứa đựng rất ít tri thức khoa học để chắt lọc phục vụ cho bổ sung, phát triển lý luận. Tình trạng nhiều địa phương “vận dụng” tùy tiện đường lối, chủ trương chung vào điều kiện cụ thể của mình không chỉ do non yếu về lý luận, mà còn có cả nguyên nhân xem nhẹ tổng kết thực tiễn để làm rõ những đặc thù của địa phương trong quá trình chỉ đạo thực hiện. Hoặc tình trạng học tập một cách máy móc kinh nghiệm địa phương khác dẫn tới thất bại cũng là do yếu kém của công tác tổng kết thực tiễn, không nắm rõ đặc điểm địa phương mình để vận dụng phù hợp (như phong trào làm xi-măng lò đứng, xây dựng nhà máy mía đường, trồng cao-su, cổ phần hóa giai đoạn đầu, hợp tác công - tư trong những năm vừa qua...). 

Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém nêu trên có nhiều, nhưng tựu trung gồm: 1- Chủ nghĩa giáo điều về mặt lý luận tồn tại trong một thời gian dài như một quán tính ăn sâu trong không ít cán bộ, đảng viên đã hạn chế tính chủ động, tích cực trong tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận; tâm lý phổ biến là trông chờ cấp trên nói gì thì cấp dưới áp dụng nguyên xi hoặc “vận dụng” một cách tùy tiện theo kinh nghiệm sẵn có của bản thân; 2- Chủ nghĩa kinh nghiệm là căn bệnh phổ biến dẫn tới coi thường lý luận, thiếu ý thức nâng cấp, phát triển tri thức kinh nghiệm thành tri thức lý luận trong quá trình lãnh đạo, quản lý, điều hành; 3- Cấp ủy nhiều nơi chưa quan tâm đúng mức đầu tư nhân lực, vật lực và thời gian cho tổng kết thực tiễn phục vụ nghiên cứu lý luận và phục vụ hoạt động chỉ đạo, điều hành, nếu tiến hành cũng chỉ là chiếu lệ, hình thức, thiếu bài bản, công phu, khoa học; 4- Thiếu lực lượng chuyên gia làm nòng cốt cho tổng kết thực tiễn và đào tạo, hướng dẫn, tập huấn phương pháp tổng kết thực tiễn. 

Những vấn đề đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả tổng kết thực tiễn phục vụ nghiên cứu bổ sung, phát triển lý luận đổi mới của Đảng thời gian tới

1- Bối cảnh mới và định hướng tổng kết thực tiễn

Sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đang bước vào một chặng đường phát triển mới với nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Cơ hội được tạo ra từ chính thành tựu của hơn 30 năm đổi mới, vị thế nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp đổi mới ngày càng được củng cố. Sức ép gay gắt khi các nguồn lực tăng trưởng cho chiều rộng dần cạn kiệt và khan hiếm, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương ngày càng gay gắt, cấu trúc an ninh - chính trị khu vực đang thay đổi, sự nghiệp bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đứng trước nhiều thách thức mới. 

Trong điều kiện đó, để tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, hơn nữa phải biến thách thức thành cơ hội, là bài toán lớn cho phát triển. Vì vậy, công tác lý luận phải đi trước một bước, đủ năng lực dự báo và vạch thảo một chiến lược phát triển đất nước đúng đắn cả về đối nội và đối ngoại, trong đó tổng kết thực tiễn là một nhiệm vụ rất quan trọng. Chỉ trên cơ sở kết hợp đúng đắn giữa tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận thì mới có thể dự báo được chính xác tình hình, đề xuất phương pháp ứng xử phù hợp để khẩn trương xây dựng sức mạnh tổng hợp quốc gia đủ thế và lực cho bảo đảm an ninh và phát triển. 

Yêu cầu tổng kết thực tiễn phục vụ cho nghiên cứu lý luận thời gian tới rất rộng lớn, song cần tập trung vào mấy định hướng sau đây: 

Trên lĩnh vực kinh tế: Đổi mới mô hình tăng trưởng, con đường và giải pháp đưa nước ta thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình”, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng về kinh tế; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thực hiện khởi nghiệp quốc gia, phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài; cơ cấu lại kinh tế nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; tích tụ và tập trung ruộng đất. Khai thác, tận dụng thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. 

Trên lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường: Xây dựng nền văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới, phát triển công nghiệp văn hóa; xây dựng hệ giá trị chuẩn mực văn hóa của con người Việt Nam thời đại mới; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nếp sống văn minh, phát triển tiềm lực văn hóa; quản lý phát triển xã hội, xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, linh hoạt, mở rộng diện bao phủ và nâng cao về chất lượng; bảo vệ tài nguyên, phát triển “kinh tế xanh”, ứng phó với biến đổi khí hậu; đổi mới mô hình đào tạo nguồn nhân lực thích ứng với giai đoạn mới. 

Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại: Thế bố trí chiến lược trong điều kiện đối tượng, đối tác và phương thức chiến tranh thay đổi; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong tình hình mới; bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của đất nước; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh văn hóa, an ninh mạng, phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bảo đảm an toàn xã hội, đấu tranh với các thế lực thù địch và cơ hội chính trị; hội nhập quốc tế, xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, các địa phương. 

Trên lĩnh vực xây dựng Đảng và hệ thống chính trị: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng. Tinh gọn bộ máy, đổi mới công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ thời kỳ mới, đặc biệt là những nhân tố điển hình tiên tiến, cách làm hay, nhân tố mới. Kiểm soát quyền lực, đặc biệt là kiểm tra, giám sát của Đảng; phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; tăng cường xây dựng gắn với chỉnh đốn Đảng, phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. 

2- Những vấn đề cần giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả tổng kết thực tiễn phục vụ cho nghiên cứu bổ sung, phát triển lý luận đổi mới của Đảng thời gian tới

Để khắc phục những hạn chế nêu trên và tăng cường công tác tổng kết thực tiễn ngang tầm với đòi hỏi nhiệm vụ công tác lý luận trong tình hình mới theo tinh thần Đại hội XII của Đảng, thời gian tới cần chú ý mấy vấn đề sau đây: 

Một là, nâng cao hơn nhận thức của cấp ủy các cấp đối với công tác tổng kết thực tiễn phục vụ nghiên cứu lý luận và hoạt động chỉ đạo, điều hành. Cấp ủy các cấp và mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý cần nhận thức rõ mặt ưu điểm và mặt hạn chế của tư duy kinh nghiệm, từ đó tìm giải pháp phát huy ưu điểm và khắc phục hạn chế. Sinh ra và trưởng thành trong xã hội tiểu nông, nên trong tiềm thức của nhiều cán bộ, đảng viên dễ mắc phải căn bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, song để tự sửa chữa căn bệnh này là điều không đơn giản. Phải bắt đầu bằng nâng cao trình độ lý luận chính trị, tạo thành thói quen lấy lý luận để phân tích, đánh giá thực tiễn, lấy thực tiễn để kiểm chứng lý luận. Sở dĩ phải nhấn mạnh điều này, bởi tổng kết thực tiễn không thể có được đối với những người non kém về lý luận, có chăng cũng chỉ là phép cộng cơ học các kinh nghiệm mà thôi, càng không thể nói đến bổ sung, phát triển lý luận từ kinh nghiệm thực tiễn. Do đó, việc tăng cường năng lực tổng kết thực tiễn cho đội ngũ cán bộ không thể tách rời với nâng cao tư duy lý luận, đặc biệt là lý luận cơ bản để có phương pháp luận và phương pháp đúng đắn khi vận dụng vào tổng kết thực tiễn. Đào tạo lý luận chính trị đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp không chỉ nhằm phát triển tư duy lý luận mà còn bao hàm cả tăng cường kỹ năng tổng kết thực tiễn. Kỹ năng đó phải biến thành hành trang thường trực trong tổ chức chỉ đạo thực tiễn, tạo thói quen rèn luyện óc quan sát, điều tra, phân tích và tổng hợp kinh nghiệm, biến thành tri thức khoa học, dùng lý luận để xem xét, sử dụng các tri thức kinh nghiệm phù hợp. 

Hai là, định hình khung lý thuyết và phương pháp khoa học phục vụ hoạt động tổng kết thực tiễn trên nền tảng chủ nghĩa duy vật biện chứng. Khung lý thuyết cho tổng kết thực tiễn phải xác định rõ khách thể, đối tượng, chủ thể, nội dung, lực lượng tham gia tổng kết thực tiễn; mối quan hệ giữa tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận, với nghiên cứu khoa học, với chỉ đạo điều hành; các phương pháp tổng kết thực tiễn,... Phải định hình được các phương pháp và kỹ năng tổng kết thực tiễn, giúp cán bộ nắm bắt được thuộc tính, bản chất các sự vật, hiện tượng; cách thức sử dụng kinh nghiệm phục vụ trực tiếp cho chỉ đạo, điều hành; con đường và cách thức tri thức hóa các kinh nghiệm. Khi khung lý thuyết và phương pháp luận đã được định hình, thì cần chuyển hóa chúng vào quá trình đào tạo được lồng ghép trong chương trình trung cấp, cao cấp lý luận chính trị hoặc tổ chức tập huấn chuyển giao cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Trang bị khung lý thuyết và phương pháp tổng kết thực tiễn phải đi đôi với trang bị phương pháp đánh giá chính sách, xem xét quá trình vận động từ lý luận thông qua chính sách để thâm nhập vào thực tiễn. Chính sách là hình thức trung gian giữa lý luận và thực tiễn, không ít quan điểm, đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng khó đi vào cuộc sống hay bị lệch lạc trong “vận dụng” không hẳn do chỉ đạo thực hiện, mà do khâu thể chế hóa thành chính sách. 

Ba là, hoàn thiện các thể chế, cơ chế và điều kiện hóa cho tổng kết thực tiễn phục vụ nghiên cứu lý luận. Đó là ban hành các thể chế xác định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của cấp ủy, cấp ủy viên, của cơ quan chuyên trách làm nòng cốt trong tổng kết thực tiễn ở mỗi cấp, mỗi ngành. Tổng kết thực tiễn phải được xây dựng thành chế độ bắt buộc đối với cán bộ, đảng viên; gắn liền với chế độ học tập, nâng cao trình độ lý luận; gắn với yêu cầu đưa cán bộ gần dân, bám sát thực tiễn. Rà soát, đánh giá lại các cơ chế tổng kết thực tiễn hiện có ở các cơ quan chuyên trách nòng cốt với sự phân tách hoạt động hành chính đảng với hoạt động chuyên môn nghiệp vụ phục vụ tổng kết thực tiễn ở các ban đảng. Các ban đảng là những cơ quan tham mưu của Đảng, có vai trò nòng cốt chuyên trách trong tổng kết thực tiễn, nhưng đến nay còn chưa tách biệt giữa hoạt động hành chính đảng với hoạt động nghiên cứu, tham mưu (bao gồm cả nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham mưu đường lối, chủ trương) đòi hỏi phải có trình độ chuyên ngành, liên ngành và phương pháp tương ứng. Cơ chế hiện có chưa giúp cán bộ tham mưu nâng cao trình độ lý luận, thiếu được trang bị các phương pháp, kỹ năng tổng kết thực tiễn, nên lúng túng khi triển khai một đề án tổng kết thực tiễn cụ thể. Cần phải hoàn thiện các chính sách liên quan, đặc biệt là bảo đảm nguồn lực, điều kiện, môi trường công tác cho các cơ quan, cán bộ ra sức trau dồi đạo đức nghề nghiệp, bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nhờ đó mà làm tròn vai trò chuyên trách nòng cốt trong tổng kết thực tiễn.

Bốn là, đa dạng hóa phương thức tổng kết thực tiễn, gắn tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận, nghiên cứu khoa học. Tổng kết thực tiễn khi trở thành chế độ bắt buộc như học tập, nghiên cứu lý luận, thì phương thức tổng kết thực tiễn cần phải được đa dạng hóa, tức là giúp cán bộ rèn luyện óc quan sát, điều tra, phân tích tình hình và tổng kết kinh nghiệm,... ở bất cứ hoàn cảnh, tình huống nào nhằm tối ưu hóa khi vận dụng lý luận cũng như phát hiện tri thức mới để bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng. Tổng kết thực tiễn lâu nay mới chủ yếu coi trọng phương thức gián tiếp thông qua thành lập ban chỉ đạo và tổ chức theo hệ thống dọc. Phương thức này rất cần thiết nhằm triển khai một đề án, nhiệm vụ tổng kết thực tiễn - lý luận cụ thể khi lý luận còn có độ trễ trước thực tiễn, đòi hỏi phải được bổ sung bằng chính dữ liệu của đời sống hay chu trình vận hành của một nghị quyết đủ niên độ thời gian (5 năm, 10 năm) phải tổng kết, đánh giá. Ngoài tổng kết theo phương thức gián tiếp còn có tổng kết theo phương thức trực tiếp, tức người lãnh đạo dành thời gian đi cơ sở để quan sát, điều tra, tổng kết các mô hình; nghiên cứu các nhân tố mới, gương điển hình tiên tiến (đơn vị anh hùng, cá nhân anh hùng, gương điển hình tiên tiến); tổng kết thực tiễn thông qua tham dự đào tạo lý luận chính trị. Nhờ tham dự trực tiếp mà cán bộ tổng kết được thực tiễn một cách chân thật, sâu sắc, như Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn: “Muốn hiểu biết toàn bộ một sự vật, hiểu biết bản chất và quy luật nội bộ của nó, thì phải suy xét kỹ lưỡng, gom góp những cảm giác phong phú lại, rồi chọn lọc cái nào thật, cái nào giả, cái nào đúng, cái nào sai, từ ngoài đến trong, để tạo thành một hệ thống khái niệm lý luận. Đó là hiểu biết do thực hành mà có và được cải tạo trong thực hành. Hiểu biết ấy sâu sắc hơn, đúng hơn, phản ánh sự vật một cách hoàn toàn hơn”(10). Để phương thức tổng kết trực tiếp có hiệu quả đòi hỏi phải định hình chế độ đi cơ sở của cán bộ lãnh đạo các cấp; hình thành thói quen quan sát, điều tra, xem xét các tình huống trong thực tiễn, đặc biệt là phát hiện các mâu thuẫn và hướng giải quyết mâu thuẫn; xây dựng chế độ tham dự đào tạo lý luận chính trị đối với cán bộ lãnh đạo các cấp. Chế độ đi cơ sở giúp cán bộ có điều kiện nắm bắt thực tiễn, bổ sung dữ liệu thực tiễn cho những nhận thức còn chưa sáng rõ, đồng thời kiểm tra lý luận bằng thực tiễn. Các nhân tố mới, gương điển hình tiên tiến rất phong phú trong đời sống, gồm cả gương tập thể và cá nhân, cần phải được phân tích và đánh giá thấu đáo để phổ biến nhân rộng, bổ sung cho tri thức lý luận. Gương tiên tiến bao hàm cả tư tưởng tiên tiến, phong cách tiên tiến, cách làm tiên tiến. Đào tạo lý luận chính trị là một không gian tốt cho tổng kết thực tiễn trong môi trường học đường, đặc biệt đối với các lớp học có sự tham gia giảng dạy của cán bộ lãnh đạo cao cấp. Cần đổi mới phương pháp giảng dạy từ truyền thụ kiến thức một chiều sang khuyến khích tranh luận, phản hồi của người học, tăng độ tương tác giữa người học, nhờ đó sẽ thu được khối lượng tri thức thực tiễn nhất định ngay trên môi trường học đường. Người giảng viên với vốn tri thức lý luận của mình sẽ giúp người học có định hướng đúng trong sử dụng tri thức kinh nghiệm, sửa chữa căn bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa khi vận dụng lý luận vào thực tiễn. 

Năm là, tăng cường năng lực tổng kết thực tiễn cho cấp ủy các cấp và xây dựng đội ngũ chuyên gia làm nòng cốt trong tổng kết thực tiễn gắn với nghiên cứu lý luận. Do tổng kết thực tiễn trước hết là trách nhiệm của cấp ủy các cấp, vậy nên mỗi cấp ủy viên phải được tăng cường năng lực tổng kết thực tiễn, định hình ý thức thường trực về nhiệm vụ tổng kết thực tiễn gắn với nâng cao trình độ lý luận. Cấp ủy viên muốn lãnh đạo tốt thì phải có năng lực tư duy lý luận và năng lực tổng kết thực tiễn. Hai mặt này có quan hệ biện chứng với nhau. Có tư duy lý luận thì mới sử dụng tri thức kinh nghiệm đúng đắn, phù hợp, sửa chữa bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa. Sử dụng tri thức kinh nghiệm phù hợp là cách thức để rút ngắn khoảng cách giữa lý luận với thực tiễn, để vận dụng lý luận không tùy tiện, thậm chí loại trừ những giải pháp không phù hợp, phản hồi để điều chỉnh cơ chế, chính sách. Tuy nhiên, để công tác tổng kết thực tiễn được tiến hành một cách chuyên nghiệp, cần phải xây dựng được đội ngũ chuyên gia nòng cốt. Đội ngũ đó thuộc các cơ cấu của hội đồng lý luận, các ban đảng từ Trung ương đến địa phương, phải có trình độ lý luận sâu sắc, am tường thực tiễn, thành thục về phương pháp và kỹ năng tổng kết thực tiễn. Cần tạo điều kiện để đội ngũ chuyên gia nòng cốt thường xuyên thâm nhập thực tiễn, tổng kết các mô hình, phong trào, tham gia đào tạo lý luận chính trị và định hình ý thức chủ động, tích cực về tổng kết thực tiễn trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Có cơ chế, chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với đội ngũ chuyên gia nòng cốt để họ yên tâm công tác, trau dồi nghề nghiệp, dành tâm huyết cho nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn. Xây dựng hệ thống dữ liệu và trang bị các công cụ, phương tiện cần thiết để đội ngũ cán bộ chuyên trách nòng cốt thuận lợi trong tổng kết thực tiễn gắn với nghiên cứu lý luận, nghiên cứu khoa học./.

---------------------------------------------

(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 7, tr. 127, 120
(3) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 9, 10
(4) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 29, tr. 220
(5) Xem bài viết của GS. Nguyễn Đức Bình đăng trên Báo Nhân Dân số ra ngày 4-6-1992
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 124
(7) Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 134 - 135
(8), (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 200, 201
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 127

PGS. TS. Đoàn Minh Huấn
Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

Nguồn: TTXVN

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Liên kết website

Mới nhất