Tòa án nhân dân - 70 năm vững bước dưới lá cờ vẻ vang của Đảng

Phụng công thủ pháp, chí công vô tư

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã giành được độc lập bằng cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, một mốc son trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc. Sau khi giành được chính quyền, xác định Tòa án là một thiết chế tư pháp quan trọng của bộ máy Nhà nước; là công cụ đắc lực của chính quyền chuyên chính vô sản, được giao nhiệm vụ thực hiện quyền xét xử góp phần bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Chính vì vậy, ngày 13/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 33-c thiết lập các Tòa án quân sự; đến ngày 24/1/1946 ban hành Sắc lệnh số 13 về tổ chức các Tòa án nhân dân và ngạch Thẩm phán. Như vậy, Tòa án quân sự là tiền thân của hệ thống Tòa án nhân dân hiện nay và ngày 13/9 hàng năm trở thành ngày truyền thống của ngành Tòa án.

Quá trình xây dựng, phát triển của hệ thống Tòa án nhân dân đã gắn liền với việc hoàn thiện, củng cố bộ máy Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nay là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là một Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, luôn đề cao hoạt động bảo vệ quyền con người, quyền công dân; được coi là nhân tố tạo dựng một xã hội dân chủ và tiến bộ. 70 năm qua, với những thay đổi về tổ chức, thẩm quyền, nhưng trong bộ máy Nhà nước, Tòa án luôn được khẳng định là cơ quan xét xử; nhân danh Nhà nước tiến hành các hoạt động xét xử nhằm mục tiêu bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Phó Chánh án Thường trực Tòa án nhân dân tối cao Bùi Ngọc Hòa nhấn mạnh: Với nhiệm vụ xét xử, mặc dù số lượng các loại vụ án năm sau tăng hơn so với cùng kỳ năm trước; tính chất những vụ án ngày càng phức tạp, phát sinh một số hành vi phạm tội và tranh chấp mới, Tòa án các cấp đã chủ động nắm bắt tình hình, đề ra nhiều giải pháp hữu hiệu và tổ chức thực hiện quyết liệt. Đặc biệt, Tòa án nhân dân tối cao đã xác định và tổ chức thực hiện tốt bốn giải pháp đột phá nhằm nâng cao chất lượng xét xử, đó là: Tăng cường và nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa; đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức; làm tốt công tác tổng kết thực tiễn xét xử và đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật; đổi mới công tác hành chính tư pháp, tạo thuận lợi cho người dân có việc liên quan đến Tòa án… Hàng năm, kết quả giải quyết, xét xử các loại vụ án có sự chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng.

Trong 6 tháng đầu năm 2015, các Tòa án đã giải quyết 161.074/251.522 vụ việc, đạt tỷ lệ 64% (so với cùng kỳ năm trước, số án thụ lý tăng 8.342 vụ, giải quyết tăng 2.950 vụ); số vụ việc còn lại hầu hết là mới thụ lý và trong thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật. Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Tòa án là 1,49% (giảm 0,21% so với cùng kỳ năm 2014), đáp ứng yêu cầu Nghị quyết số 63/2013/QH13 của Quốc hội đề ra. Công tác xét xử các vụ án hình sự đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm đều được Tòa án đưa ra xét xử kịp thời, nghiêm minh…

Với trọng trách “Thực hiện quyền tư pháp”, Tòa án nhân dân tối cao đã chỉ đạo toàn hệ thống Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự các cấp thường xuyên, tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, quán triệt, học tập lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ Tòa án để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao.

Phó Chánh án Thường trực Tòa án nhân dân tối cao Bùi Ngọc Hòa chia sẻ: Quán triệt sâu sắc lời di huấn của Bác Hồ, từ năm 2007 đến nay, Tòa án nhân dân tối cao đã phát động phong trào thi đua trong toàn hệ thống Tòa án với khẩu hiện xuyên suốt là “phụng công thủ pháp, chí công vô tư”, với phương châm phải “gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân” đối với cán bộ Tòa án, gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, kết hợp với việc khắc phục những tồn tại sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Hưởng ứng các phong trào thi đua, cán bộ, Thẩm phán trong toàn ngành đã nỗ lực phấn đấu, vượt mọi khó khăn, nâng cao chất lượng xét xử, tích cực tu dưỡng đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị, đổi mới tác phong phục vụ nhân dân…

Với bề dày 70 năm xây dựng và phát triển, với nhiều đổi mới tích cực, cải cách đúng đắn, ngành Tòa án nhân dân đã được Đảng, Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý, tiêu biểu như: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao vàng…

Thực hiện quyền tư pháp - Thành tựu quan trọng trong lịch sử nền tư pháp quốc gia


70 năm qua, Tòa án nhân dân đã qua nhiều giai đoạn cải cách, đổi mới để hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, kế thừa, phát triển tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2002 của Bộ Chính trị về công tác tư pháp, ngày 2/6/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, nêu rõ: Tòa án là trung tâm, xét xử là trọng tâm, tranh tụng là khâu đột phá trong công cuộc cải cách tư pháp; thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng về Chiến lược cải cách tư pháp sâu rộng, cơ bản và lâu dài nền tư pháp nước nhà.

Phó Chánh án Thường trực Tòa án nhân dân tối cao Bùi Ngọc Hòa cho biết: Cụ thể hóa các Nghị quyết của Đảng, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”, phân công rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân thực hiện quyền lực quốc gia về tư pháp. Cùng với nguyên tắc độc lập xét xử; nguyên tắc suy đoán vô tội; chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được đảm bảo, Hiến pháp năm 2013 còn quy định cụ thể nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm; Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Để phù hợp với nội dung Hiến pháp, tháng 11/2014, Quốc hội đã thông qua Luật Tổ chức Tòa án nhân dân mới. Theo đó, hệ thống tổ chức của Tòa án nhân dân được tổ chức thành 4 cấp: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao; Tòa án tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Tòa án huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Cùng với đó là nhiều thay đổi về chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt động, chế độ bổ nhiệm, thi tuyển Thẩm phán và các quy định khác liên quan đến tổ chức, hoạt động của Tòa án nhân dân trong giai đoạn mới.

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, việc bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có nhiều thay đổi: Từ số lượng 120 Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo Luật cũ, nay theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 rút xuống chỉ còn 13 đến 17 người. Quy trình bổ nhiệm cũng thay đổi cơ bản: Sau khi Hội đồng tuyển chọn và giám sát Thẩm phán quốc gia tuyển chọn, lên danh sách, trải qua quy trình lấy phiếu tín nhiệm ở nhiều cấp, sau đó trình Quốc hội xem xét, cân nhắc, phê chuẩn. Căn cứ vào Nghị quyết phê chuẩn của Quốc hội, Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán mới trình Chủ tịch nước ký quyết định bổ nhiệm.

Ngày 26/6/2015, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã chính thức thông qua Nghị quyết đề nghị phê chuẩn của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc bổ nhiệm 15 Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Như vậy, trong lịch sử lập Hiến, lập nước và suốt 70 năm xây dựng, phát triển của Tòa án nhân dân, lần đầu tiên Hiến pháp nước ta đã quy định rõ: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”, thực hiện quyền lực quan trọng trong bộ máy Nhà nước. Cũng là lần đầu tiên trong lịch sử đất nước, một chức danh tố tụng là Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được Quốc hội phê chuẩn. “Đây là một sự kiện quan trọng; một bước ngoặt của hệ thống Tòa án nhân dân trong sự nghiệp củng cố pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, sự đổi mới này là thành tựu to lớn của chiến lược cải cách tư pháp suốt mấy chục năm qua theo định hướng của Đảng – Một chiến lược lâu dài, thường xuyên, đòi hỏi phải luôn đổi mới, nâng cao nhận thức chính trị và lý luận khoa học pháp lý, tất cả vì mục tiêu bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, nhằm xây dựng một xã hội Việt Nam công bằng, dân chủ, văn minh”, Phó Chánh án Thường trực Bùi Ngọc Hòa khẳng định./.

Nguyễn Cường

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website

Xem nhiều nhất