Cựu "Ðội quân tóc dài" kể chuyện
Cô Phùng Thị Bùi (người thứ hai từ trái sang) trong buổi giao lưu kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Đội quân tóc dài tỉnh Bến Tre.
Rất mạnh mẽ và quyết liệt, đó là cô Nguyễn Thị Xinh, người phụ nữ nổi tiếng đi đấu tranh chính trị ở huyện Thạnh Phú, có lúc phải chuyển vùng lên Sài Gòn. Cô sinh năm 1936, tham gia cách mạng từ năm 20 tuổi. Cô kể lại: Ðấu tranh chính trị gian nan lắm, có lúc thắng, nhưng cũng có lúc bị đàn áp rất dã man.  Tôi còn nhớ một lần biểu tình ở thị trấn Thạnh Phú, lực lượng của ta kéo đi và hô vang khẩu hiệu "đả đảo đàn áp", "đả đảo Mỹ-Diệm", thì chúng yêu cầu ta phải hô to "đả đảo cộng sản". Ðể tránh đàn án, chúng tôi phía trước giơ cao hai chữ "đả đảo", còn ở đằng sau chỉ đưa lên hai chữ "Luật 10/59". Vậy mà chúng cũng bắt, đánh chị em mình. Khoảng nửa cuối năm 1957, tôi đã có thai gần sanh, nên ở nhà, chúng kéo đến lục soát, bắt và đánh tôi. Ðánh trong nhà chưa đã, chúng lôi tôi ra sân đánh tiếp, rồi đưa tôi vào khám.

Ðến xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm hỏi cô Nguyễn Thị Ðời, ai cũng biết. Cô sinh năm 1930, tham gia cách mạng năm 1960, chỉ huy trưởng lực lượng đấu tranh chính trị của xã. Cô được nhiều người biết đến là vì có công nuôi giấu cán bộ và nhiều lần đấu tranh trực diện với kẻ thù, không ít lần bị giặc bắt và đánh đập dã man. Có lần giặc bắt cô dẫn về chỉ cơ sở cách mạng, nhưng cô nghĩ: Thà hy sinh chứ không làm lộ cơ sở, không làm hại cách mạng, nên cô đã dẫn bọn giặc đến một bãi mìn, làm cho chúng chết và bị thương rất nhiều, bản thân cô cũng bị thương nặng. Bọn địch bắt cô và cột hai chân lôi trên đường tróc cả da đầu, mà cho đến nay tóc vẫn không mọc được. Cô còn nhớ nhiều, nhưng nói rất khó nghe.

Trong đội quân tóc dài không chỉ có cô Xinh, cô Ðời mà có người còn hy sinh cả đời con gái của mình để bảo vệ cách mạng, bảo vệ phong trào. Ðó là cô Lê Thị Thoại, tự là Út Thoại. Trong những người tôi tiếp chuyện thì cô Lê Thị Thoại trẻ nhất. Cô sinh năm 1942, ở xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày Nam, trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Cô tham gia cách mạng năm 1959 và là người trực tiếp tham gia phong trào Ðồng khởi năm 1960 ở xã Phước Hiệp. Nhiều lần bị địch bắt, nhưng cô một mực giữ khí tiết cách mạng. Một trong những động lực trực tiếp thúc đẩy cô tham gia đấu tranh chính trị từ hồi còn rất trẻ, đó là gần cả gia đình bị địch tra tấn dã man cho đến chết. Cô kể: "Hồi năm 1959, mẹ tôi đi đấu tranh ở Sài Gòn đòi bỏ Luật 10/59, bảo vệ dân quyền, dân sinh, dân chủ. Lúc ấy mẹ tôi bị bắt giam ở Sài Gòn. Một năm sau mẹ tôi được thả về, thì chúng bắt anh tôi đày ra Côn Ðảo phải chết trong tù và một anh ở khám Chí Hòa, chỉ vì bị tình nghi là ám sát cảnh sát ở xã Phước Hiệp. Cho đến khi mẹ tôi được thả về, chúng bắt hai anh bắn và chôn chung với 43 người dân ở xã Phước Hiệp. Tôi lúc đó cũng bị bắt. Chúng biết gia đình tôi, nhưng chúng vẫn hỏi gia đình tôi gồm những ai, tôi không nói, chúng giở trò bất lương,  tra tấn dã man. Sau 20 ngày tôi không khai, chúng thả tôi về. Tôi không về, mà ở lại yêu cầu cho giám định. Chúng cố tình không tin. Tôi nói, nếu tôi nói mà không có thì tôi chịu tội. Chúng vẫn không cho đối chất. Chúng tiếp tục đánh đập nhiều lần, nhưng cuối cùng tôi kiên quyết, nếu các ông không tin, các ông cứ mời ngành chức năng khám xét trước tòa án. Nhiều lần đấu tranh, chúng nhượng bộ, đưa tôi lên tòa án Bến Tre khám nghiệm. Rõ sự thật, chúng thả tôi về, nhưng có người ở tòa án binh huyện nói: "Cô đừng về dưới, vì về dưới, chúng nó sẽ trả thù". Tôi nghe theo và nói lại với mấy ông tòa án "nếu mấy ông nói vậy thì mấy ông cho tôi ở tạm lại huyện Mỏ Cày". Tòa án đồng ý. Tôi đến ở nhờ nhà bà con và tìm cách móc nối với lực lượng bên ngoài. Hằng ngày mỗi sáng tôi ra chợ để liên hệ và báo cáo tình hình, xin chỉ đạo mới. Những ngày sau đồng khởi nổ ra, không lâu sau chúng đưa quân bao vây ba xã nổ ra đồng khởi, người dân lên ngày một đông, tôi có lợi thế là sống lâu ở thị trấn, nên quen đường đi nước bước, cùng nhau phối hợp cứ sống vây quanh dinh quận Mỏ Cày, có cả trâu, bò, heo, gà, vịt, ai có gì cứ dắt theo, vừa tản cư, nhưng đồng thời cũng yêu cầu quận trưởng rút quân cho dân trở về nhà làm ăn. Viện cớ nếu còn quân ở dưới thì chúng tôi không dám về nhà, cùng với các con vật phóng uế, ngày càng hôi thối. Cuối cùng cuộc đấu tranh thắng lợi. Cảm phục trước sự hy sinh của cô Thoại, một người du kích tên là Trần Văn Y đem lòng yêu cô. Thế là cô lập gia đình và có một mái ấm gia đình cùng chí hướng. Năm 1970, chồng cô hy sinh và từ đó cô tiếp tục tham gia cách mạng đến ngày miền nam hoàn toàn giải phóng.

Trường hợp cô Phùng Thị Bùi ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm lại hoàn toàn khác. Cô sinh năm 1934, gia đình rất nghèo, lại mù cả hai mắt, nhưng cô nhất quyết đi làm cách mạng. Có lẽ văn thơ Nguyễn Ðình Chiểu đã ảnh hưởng rất nhiều đến cô, cô nói: "Nguyễn Ðình Chiểu mù, nhưng ông dùng những vần thơ để chống thực dân Pháp. Còn mình có cây đờn thì cớ chi mà không làm cái gì đó cho cách mạng?". Vậy là đêm đêm trước khi chị em lên đường đi đấu tranh là cô hát, khi chị em đi công tác về cô cũng hát. Theo cô, "Hát là để kích thích tinh thần, là xóa đi một phần mệt nhọc". Nên "Thắng lợi hát đã đành, những lần thất bại tôi cũng hát, hát để lấy lại tinh thần. Dần dần tôi đi đấu tranh chính trị trực diện với quân thù, vừa đờn, vừa đấu tranh. Tôi lựa những bài hát thích hợp, giặc bất ngờ không đáp lại được". Tôi nhớ có một lần đấu tranh trực diện với quân thù, tôi hát chúng kêu tôi lên, chúng lấy cây đờn của tôi rồi đuổi tôi về. Tôi liền suy nghĩ hát không đờn cũng đâu sao. Vậy là tôi hát, rồi tôi bình: Hát không đờn mấy ông thấy sao? Nghe không hay phải không? Vậy là mấy chị em tiếp tục phản đối, người dân bên ngoài cũng la lên, ủng hộ chúng tôi, kể cả trong bọn lính cũng không đồng tình. Vậy là chúng trả lại cây đờn. Tôi tiếp tục ca, tiếp tục hát, mỗi bài hát là một lần chúng tôi lấn tới, ép chúng cuối cùng phải lọt vào cổng bót, chúng tôi rút quân".

Thời gian cứ trôi qua, nhưng tên tuổi của những người phụ nữ như cô Nguyễn Thị Ðịnh, một nữ tướng nổi tiếng trong Quân đội Nhân dân Việt Nam; cô Nguyễn Thị Khao (Út Thắng) trực tiếp chỉ đạo đấu tranh chính trị; nữ du kích Tạ Thị Kiều hay cô Út Tuyết "tay không diệt đồn giặc",... Còn có các cô Nguyễn Thị Hồng, Ðoàn Thị E, Lê Thị Tranh, Huỳnh Thị Kiên, Nguyễn Thị Kim Dung, Nguyễn Thị Tư, Ca Lê Du,... có tới hàng trăm lần đấu tranh với địch. Riêng cô Bảy Tranh (Thành Thới, Mỏ Cày Nam) vừa gánh việc nhà, nhưng đã tham gia hơn 300 cuộc đấu tranh trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn ác liệt. Hễ có cuộc đấu tranh nào khó khăn là có mặt cô, với hàng chục lần bị đánh đập dã man, thương tích đầy người, nhưng vẫn khăng khăng "cứ khiêng tôi đi tố cáo nó. Nếu tôi chết cũng đừng vội chôn, bà con có thương tôi thì cứ khiêng xác tôi đi đấu tranh đến cùng, dù rã thây cũng được". Gần như mỗi người là một hoàn cảnh, đồng thời cũng là một chứng tích viết thêm trên bản anh hùng ca bất hủ của người phụ nữ Việt Nam: Trung, trinh, tiết, liệt./.

(Theo: Lê Quang Nhung/ND)

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website

Xem nhiều nhất