Thi đua là yêu nước, Yêu nước thì phải thi đua!

Ngày ấy, cách đây hơn 60 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người khởi xướng phong trào Thi đua yêu nước, cũng đồng thời là Người thường xuyên quan tâm theo dõi, cổ vũ động viên và chỉ đạo phong trào. Xuất phát từ tình hình và nhiệm vụ cụ thể của mỗi thời kỳ mà phong trào Thi đua yêu nước có nội dung cụ thể và thiết thực, song theo Người, cơ sở của thi đua chính là mọi việc làm thường ngày và đó “là nền tảng của thi đua”[1]. Ngay khi cách mạng tháng Tám 1945 mới thành công, đứng trước những cam go, thách và nguy cơ trực tiếp từ “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từ những công việc tưởng như đơn giản hàng ngày kêu gọi, động viên mỗi người dân Việt Nam đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, bằng cách tích cực thi đua tham gia vào các phong trào: “Tuần lễ vàng”, phong trào “Bình dân học vụ”, vận động “Đời sống mới”, Quỹ Đọc lập, Quỹ đảm phụ Quốc Phòng, v.v..Người cũng khẩn thiết kêu gọi: “Tăng gia sản xuất ngay!Tăng gia sản xuất ngay!Tăng gia sản xuất nữa !..Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập”[2], đồng thời đề xướng phong trào lạc quyên gạo cứu đói, với các hình thức như: “Hũ gạo cứu đói”, “Ngày đồng tâm nhịn ăn”,v,v.. Từ những phong trào thi đua “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm” ấy, đã có những tấm gương tiêu biểu được nhận tặng thưởng của Người. Đó là bà Vương Thị Lài được Người tặng Huy chương vàng “đại biểu cho lòng hăng hái và hy sinh cho tất cả phụ nữ Việt Nam”, và ông Nguyễn Sơn Hà, người đóng góp nhiều thứ 2 cho Quỹ Quốc phòng được Người tặng ảnh[3].

Sau đó, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày càng lan rộng, phong trào xoá bỏ những hủ tục lạc hậu, thi đua xây dựng đời sống mới tiếp tục được thực hiện (theo nội dung trong tác phẩm Đời sống mới năm 1947 của Người). Đối với các cháu thiếu niên nhi đồng, Người mong các cháu hãylàm tốt Công tác Trần Quốc Toản (2/1948), thi đua tổ chức thành những đội, giúp nhau học hành, khi rảnh “đi giúp đồng bào” và “đội này thi đua với đội khác”, “đội nào giỏi hơn, Bác sẽ gửi giấy khen”[4],v.v...Để động viên mọi người nhiệt tình ủng hộ phong trào Thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”, trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1946), Người khẳng định: “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hoá”[5]. Phát huy truyền thống yêu nước và tinh thần đoàn kết, hăng hái thi đua từ những ngày đầu “của nền dân chủ cộng hoà”, theo lời hiệu triệu của Người nhân dân cả nước, từ “các cụ phụ lão” đến “các cháu nhi đồng”, từ “đồng bào phú hào” đến “đồng bào công nông”, “đồng bào trí thức”, “nhân viên Chính phủ”, “bộ đội và dân quân”, đồng lòng “ai cũng thi đua”, làm cho phong trào Thi đua yêu nước thật sôi nổi.

Thi đua một cách toàn diện, rộng khắp và thường xuyên trong những năm kháng chiến: “các chiến sĩ kinh tế” thi đua với “các chiến sĩ quân sự”, các nhà văn hoá thi đua “có những tác phẩm xứng đáng, chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến quốc bây giờ, mà còn để lưu truyền cái lịch sử oanh liệt kháng chiến kiến quốc cho hậu thế”[6], các “nam nữ trong phong trào Bình dân học vụ “hăng hái xung phong, diệt cho hết giặc dốt”, “các cán bộ thi đua thực hành cần, kiệm, liêm, chính”,v.v...Đặc biệt, theo lời kêu gọi của Người, thi đua với tinh thần mới, lực lượng mới: “Người người thi đua. Ngành ngành thi đua. Ngày ngày thi đua, ta nhất định thắng, địch nhất định thua”, Phong trào thi đua trong sản xuất nông nghiệp như: “Thi đua tiết kiệm, tránh xa xỉ, phí phạm, để dành lương thực cho bộ đội hoặc cho những lúc túng thiếu” (1/3/1950), thi đua với tinh thần “ruộng đất là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương”(2/1951), “thi đua đóng thuế nông nghiệp” (3/1953),v, v..đã được nhân dân hưởng ứng và thu được kết quả tốt. Đánh giá về tình hình thi đua trong sản xuất nông nghiệp, tại Đại hội các chiến sĩ thi đua và gương mẫu toàn quốc (1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Thi đua trong vụ mùa thắng lợi khá, đã biết thi đua từng đợt,... Một vài nơi đã biết đặt kế hoạch đến từng gia đình, thôn xóm, song phong trào chưa đều khắp và còn thiếu liên tục. Cũng tại Đại hội này, Người chỉ rõ từng điểm mạnh, và những hạn chế của các phong trào. Theo Người, Phong trào thi đua trong toàn quân, với các nội dung: Luyện tập giỏi, Diệt nhiều địch, Khắc phục khó khăn, chấp hành mệnh lệnh, làm tròn nhiệm vụ đã được thực hiện, nhưng càng “càng phải thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm”. Phong trào thi đua trong thanh niên: đã xung phong trong bộ đội, dân công và công nghệ nhưng ở nông thôn “thanh niên chưa làm nổi bật vai trò xung phong”, còn phong trào thi đua của lao động trí óc thì “cán bộ chuyên môn thi đua khá”, “thi đua diệt giặc dốt khá”, nhưng nói chung “ngành văn hoá giáo dục tiến chậm”. Người nhấn mạnh: phong trào thi đua trong các cơ quan chưa đều, chưa có nề nếp, thiếu liên tiếp, và về mặt lãnh đạo có những đoàn thể “chưa đi thật sát với quần chúng”. Tựu chung lại, phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ kháng chiến đã “làm cho đồng bào ta tránh khỏi nạn đói”, đã giúp cho mỗi người tự cải tạo bản thân mình, phấn đấu vươn lên trong mọi mặt công tác và rèn luyện đạo đức, từng bước đưa cuộc kháng chiến tiến tới thành công.

Sự phát triển mạnh mẽ, sâu rộng của phong trào Thi đua yêu nước do Người phát động đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của dân tộc trong cuộc trường chinh chống Pháp. Sau chiến tháng lịch sử điện Biên Phủ (7/1954), miền Bắc được giải phóng, bắt tay vào khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và từng bước cải tạo kinh tế, văn hoá xã hội, tạo cơ sở vật chất cho thời kỳ quá độ đi lên CNXH, còn miền Nam vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng. Trong bối cảnh mới, với những nhiệm vụ mới hết sức nặng nề, đã xuất hiện rất nhiều tấm gương những người thật, việc thật trong đời thường, mà từ những việc họ làm thật nhỏ hàng ngày vẫn ngời sáng phẩm chất đạo đức XHCN “mình vì mọi người”, “việc nhỏ nghĩa lớn”, v.v.. Để nêu gương những người thật, việc thật đó, để những bông hoa đó toả sắc hương rộng khắp trong quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị mở mục Người mới, việc mới, tuyên truyền trên báo chí, sau đó Người đề nghị đổi thành chuyên mục Người tốt, việc tốt.

Tháng 7/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ 2. Tại Đại hội, Người khẳng định: “Phong trào Thi đua yêu nước ở ta ngày càng phát triển vì nhân dân ta đã làm chủ nước nhà”[7]. Phong trào thi đua phát triển và những gương anh hùng, chiến sĩ thi đua ngày càng nở rộ. Trong đó, có người là lao động chân tay và lao động trí óc, là phụ nữ, là chiến sĩ, đồng bào miền Nam tập kết, là người dân các nước anh em lao động trên đất nước ta, là thương binh, bộ đội phục viên, còn có cả gia đình liệt sĩ, v.v.. Tất cả họ, đều là “những người tiên phong trong sản xuất, mà cũng gương mẫu về đạo đức cách mạng” và họ cần phải “tiến mãi không ngừng”, để cùng đồng bào và chiến sĩ cả nước “vững bước tiến dần lên CNXH và nhất định thắng lợi trong sự nghiệp thống nhất nước nhà”.

Trong những năm cả nước thi đua chống Mỹ và xây dựng CNXH, phong trào thi đua của phụ nữ ở miền Bắc với các nội dung: Cần kiệm xây dựng Tổ quốc, cần kiệm xây dựng gia đình đã được thực hiện (8/3/1960), “Vững tày cày, chắc tay súng”(1961), “Năm tốt”(30/4/1964), “ Ba đảm nhiệm” (18/3/1965) về sau đổi thành “Ba đảm đang” với 3 nội dung: 1/Phụ nữ đảm đang sản xuất và công tác; thay thế cho chồng con đi chiến đấu; 2/Phụ nữ đảm đang việc gia đìnhcho chồng, con, anh em tòng quân và phục vụ lâu dài trong quân đội; 3/Phụ nữ đảm đang phục vụ chiến đấu, tham gia dân quân tự vệ, tập luyện quân sự để sẵn sàng chiến đấu; phục vụ bộ đội, công an, dân quân tự vệ khi chiến đấu, v.v...đã diễn ra rất sôi nổi và bền bỉ. Họ, những người phụ nữ Việt Nam thật xứng đáng với 8 chữ vàng Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” thực sự là “hậu hương lớn”, vững chắc cho những người cha, người anh, người em, người chồng, người con ở tiền tuyến yên tâm nắm chắc tay súng, diệt quân thù.

Không chỉ có phụ nữ, sôi nổi và hào hùng, thế hệ trẻ (thanh thiếu niên và nhi đồng) hăng hái tham gia phong trào Thi đua yêu nước. Phong trào thanh niên “ba sẵn sàng” (2/1965) của thanh niên hưởng ứng Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng với 3 nội dung: 1/ Thanh niên sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu dũng cảm và gia nhập các lực lượng vũ trang; 2/Thanh niên khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, học tập trong bất kỳ tình huống nào; 3/Thanh niên sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần; phong trào thanh niên “xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) ở miền Bắc và phong trào “Năm xung phong” của tuổi trẻ cả nước trong những năm 1961-1965, phong trào thiếu nhi “làm nghìn việc tốt” (1963), cũng góp phần làm cho thi đua yêu nước ở miền Bắc trong những năm thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất thêm sôi động.Từ thi đua yêu nước đã xuất hiện các phong trào xung phong đi xây dựng kinh tế miền núi của nhân dân các tỉnh đồng bằng, xây dựng các đơn vị sản xuất, các ca sản xuất Thanh niên trong các nhà máy xí nghiệp, thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy trong thiếu niên, nhi đồng, v.v.. thu hút đông đảo mọi người tham gia.

Phong trào thi đua trong ngành công nghiệp của giai cấp công nhân, với các mục tiêu: thi đua sản xuất “nhanh, nhiều, tốt, rẻ” (30/5/1957), thực hiện cuộc vận động: 3 xây 3 chống: Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý tài chính, cải tiến kỹ thguật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu (27/7/1963). Trong các xí nghiệp, nhà máy, phong trào thi đua đạt: Năng xuất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều (3/4/1964) sau gọi thành thi đua 3 cao điểm (12/2/1965), v.v..cũng diễn ra sâu rộng và liên tục. Giai cấp công nhân đã thi đua đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, giữ đúng kỷ luật lao động, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân và thiết thực chi viện cho đồng bào miền Nam đánh Mỹ. Điển hình của phong trào là nhà máy cơ khí Duyên Hải, Hải Phòng đã có thành tích trong: Thi đua hợp lý hoá sản xuất và Cải tiến kỹ thuật (1961). Thành tích toàn diện và vượt mức kế hoạch năm 1961 của Duyên Hải đã có tác dụng cổ vũ, thúc đẩy mạnh mẽ phong trào thi đua trong toàn ngành công nghiệp, với tinh thần “Học tập Duyên hải, Thi đua với Duyên Hải”. Nói chuyện tại hội nghị sơ kết phong trào thi đua “Phấn đấu trở thành người lao động tiên tiến, tổ tiên tiến, đơn vị tiên tiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “phong trào Thi đua yêu nước, phong trào cải tiến quản lý xí nghiệp, phong trào “tiên tiến” (20/6/1960), ba phong trào đó kết hợp chặt chẽ với nhau”[8], cùng nhằm mục đích xây dựng thành công CNXH. Phong trào thi đua trong ngành thủ công nghiệp đã xuất hiện hợp tác xã Thành Công, Thanh Hoá đạt thành tích: Tinh thần tự lực cánh sinh; Cần kiệm xây dựng hợp tác xã (12/1961).Thi đua với Thành Công, có hơn 8000 hợp tác xã thủ công nghiệp phát huy được 56.000 sáng kiến (số liệu của Viện Thi đua khen thưởng Trung ương), góp phần hoàn thành thắng lợi kế hoạc năm 1961 của ngành thủ công nghiệp.

Cùng với công nhân, nông dân miền Bắc thực hiện cuộc vận động Cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật nhằm phát triển sản xuất toàn diện. Cùng với với phong trào thi đua đạt: Năng xuất cao, hoa màu nhiều, chăn nuôi giỏi, cây công nghiệp tăng (3/4/1964), là các phong trào thi đua làm thuỷ lợi trong hai năm 1964-1965, phong trào thi đua trồng cây, gây rừng, v,v... Trong thi đua, đã xuất hiện những tập thể điển hình, được các phương tiện truyền thông nêu gương. Đó là Hợp tác xã Đại Phong thuộc xã Phong Thuỷ, Huyện Lệ Thuỷ, Quảng Bình, đơn vị đã có thành tích đi đầu trong phong trào: Cải tiến quản lý hợp tác xã; cải tiến kỹ thuật; đẩy mạnh sản xuất. Noi gương Đại Phong, hơn 10.000 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc (số liệu của Viện Thi đua khen thưởng Trung ương) hăng hái thi đua, tỏ rõ sức mạnh to lớn của nông dân nước ta trên con đường hợp tác hoá, xây dựng đời sống hạnh phúc ấm no.

Phong trào thi đua trong Quân đội, như cờ Ba nhất: Đạt thành tích nhiều nhất; Đều nhất: Giỏi nhất và phong trào thi đua thuộc ngành hậu cần: Tiến nhanh vượt mức kế hoạch, vươn lên hàng đầu, v.v.. đã phát huy được truyền thống và bản chất tốt đẹp của quân đội ta. Trong từng đơn vị, phong trào thi đua đã cổ vũ tinh thần phấn đấu vươn lên trong học tập và rèn luyện của cán bộ và chiến sĩ để tăng nguồn sức mạnh đánh thắng mọi kẻ thù.

Trong ngành giáo dục, phong trào thi đua Hai tốt: Dạy tốt, Học tốt trong các nhà trường theo gương điển hình Bắc Lý, Nam Hà (1961) cũng được nhân rộng. Thực hiện nội dung giáo dục toàn diện, gắn nội dung giảng dạy với thực tế lao động sản xuất, thầy và trò ngành giáo dục đề ra khẩu hiệu “Học tập bắc Lý, đuổi kịp và vượt Bắc Lý”. Hoà cùng phong trào Thi đua yêu nước, giới trí thức cũng có phong trào thi đua 3 quyết tâm: Quyết tâm phục vụ sản xuất và chiến đấu; Quyết tâm đẩy mạnh cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng văn hoá tư tưởng; Quyết tâm xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức XHCN (6/1/1966), biểu thị ý chí quyết tâm, mang hết tài năng trí tuệ của giới trí thức cách mạng trên các mặt trận lao động sản xuất và chiến đấu, cống hiến cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

Thi đua yêu nước, thi đua trong tất cả cả các ngành, các giới, trên mọi lĩnh vực và thi đua ở cả 2 miền Bắc Nam, đã không chỉ xuất hiện nhiều anh hùng và chiến sĩ thi đua, mà còn có nhiều bông hoa người tốt, việc tốt toả sáng trong thực tiễn. Theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những cuốn sách viết về tấm gương Người tốt, việc tốt (6/1968) đã từng được báo chí, bản tin nêu gương sẽ được xuất bản để nhân rộng những hạt giống đỏ, những bông hoa đẹp trong vườn hoa của chủ nghĩa anh hùng cách mạng mà sức lan toả trong quần chúng vô cùng sâu sắc. Và đi liền đó là phong trào thi đua noi gương Người tốt, việc tốt cũng được thực hiện.

Hướng về miền Nam, phong trào thi đua: Mỗi người làm việc bằng để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt (28/3/1964) của đồng bào và chiến sĩ miền Bắc, đã góp phần tăng cường sức mạnh, củng cố quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ. Từ hậu phương miền Bắc XHCN, theo lời kêu gọi thi đua vì miền Nam “Thành đồng Tổ quốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khẩu hiệu thi đua: Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người đã được thực hiện. Tinh thần thi đua yêu nước trong lao động sản xuất, trong học tập và đặc biệt là trên trận tuyến đánh quân thù của quân dân cả nước trong những năm xây dựng miền Bắc XHCN và chống Mỹ cứu nước, với biết bao anh hùng, chiến sĩ thi đua, bao dũng sĩ diệt Mỹ, bao tổ đội lao động XHCN,v.v được tuyên dương tại Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ 3 (1962), lần thứ 4 (1966) và nhiều Hội nghị khác. Cùng đó, bao tấm gương người tốt, việc tốt cũng được nhận quà tặng, giấy khen và huy hiệu của Người. Thi đua yêu nước thực sự trở thành động lực tinh thần của toàn xã hội, góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

Hưởng ứng phong trào Thi đua yêu nước, trong toàn Đảng cũng đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng chi bộ vững mạnh, gắn liền với việc chỉnh Đảng. Trước mỗi bước ngoặt của cách mạng, Đảng lại thường xuyên tự đổi mới và giữa những năm tháng đầy khó khăn của sự nghiệp xây dựng CNXH và chống Mỹ cứu nước, phong trào thi đua: xây dựng chi bộ và Đảng bộ cơ sở 4 tốt sau 3 năm thực hiện đã được tổng kết (4/1966). Tại Hội nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, “đảng viên tốt thì chi bộ mới tốt. Muốn đảng viên tốt thì chi bộ phải thường xuyên giáo dục...đồng thời giúp đỡ đảng viên hằng ngày tự kiểm điểm mình”[9], để ngày càng có nhiều hơn chi bộ đạt “bốn tốt”, lãnh đạo nhân dân hoàn thành thắng lợi kế hoạch nhà nước.

Điểm lại một số phong trào thi đua của các ngành, các giới trong phong trào Thi đua yêu nước từ khi nước nhà giành được độc lập (1945) cho đến khi Người qua đời (1969) nhân dịp Đại hội thi đua yêu nước lần thứ VIII chuẩn bị khai mạc tại Hà Nội, cũng là một lần nữa thấm nhuần sâu sắc hơn lời Người dặn: Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất. Đó không chỉ là suy ngẫm, đó còn là thiết thực Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh./.

TS. Mai Anh

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, t.5, tr.658

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.4, tr.115

[3] Theo Song Thành, Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb. LLCT, H, 2006, tr.336

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.387

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.444

[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.464

[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.199

[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.10, tr.162

[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.12, tr.80

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website

Xem nhiều nhất