Sự phát triển trong quan điểm của Đảng về văn hóa

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào năm 1930 là một bước ngoặt quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo trên mọi mặt trận, trong đó có văn hóa cách mạng của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Suốt chặng đường lãnh đạo đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh những chủ trương, đường lối xây dựng hệ thống chính trị và phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng và phát triển văn hóa cách mạng luôn là mối quan tâm hàng đầu trong tiến trình cách mạng, trong đường lối chính trị của Đảng.

ĐỀ CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM NĂM 1943: DÂN TỘC, KHOA HỌC, ĐẠI CHÚNG

Trong tiến trình cách mạng 90 năm ấy Đảng và Nhà nước ta thường xuyên chỉ đạo xây dựng nhiều chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp để khai thác, phát huy sức mạnh của văn hóa qua từng giai đoạn lịch sử của dân tộc và đã đạt được những thành tựu quan trọng.

Khởi xướng cho phong trào văn hóa cách mạng ở Việt Nam ngay từ những năm tháng mới được thành lập là bản Đề cương Văn hóa Việt Nam năm 1943 do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khởi thảo và công bố với 3 nội dung chính: dân tộc, khoa học, đại chúng. Xác định văn hoá - tư tưởng là một cuộc cách mạng, bản Đề cương đã trình bày hệ thống các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ,… của cuộc vận động văn hóa dân tộc Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam lúc đó đang trong quá trình đấu tranh và bảo vệ chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp.

Với phương hướng chỉ đạo hoạt động văn hoá, nghệ thuật Việt Nam lúc này cần tập trung vào xây dựng nền văn hoá Việt Nam vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính đại chúng và mang tính khoa học, bản Đề cương văn hóa năm 1943 có thể coi là cương lĩnh văn hoá đầu tiên của Đảng trong cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay cả trong những năm sau đó, những chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp của bản Đề cương đã phát huy tối đa sức mạnh văn hóa và đã góp phần quan trọng đem đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chính vì thế, Đề cương văn hóa được coi như là tuyên ngôn, đường lối văn hóa của Đảng, định hướng đấu tranh cách mạng trên lĩnh vực văn hóa, tập hợp, cổ vũ các nhà hoạt động văn hóa đứng vào trận tuyến đấu tranh của dân tộc.

VĂN HÓA SOI ĐƯỜNG CHO QUỐC DÂN ĐI

Ngay sau khi đất nước giành được độc lập vào năm 1945, nhờ việc xác định đúng đắn vai trò của văn hóa “soi đường cho quốc dân đi” (Chủ tịch Hồ Chí Minh), văn hóa cách mạng Việt Nam khi ấy không chỉ nhằm đấu tranh trực diện chống lại văn hóa phản động của thực dân Pháp đang áp đặt lên nước ta, mà còn phản ánh được quy luật vận động và phát triển tất yếu của văn hóa.

Năm 1951, tại Đại hội II, Đảng ta thông qua Luận cương cách mạng Việt Nam, trong đó có nhiệm vụ: “Xây dựng nền văn hóa dân chủ nhân dân Việt Nam có ba tính chất: dân tộc, khoa họcđại chúng. Đường lối tiến hành cuộc cách mạng văn hoá tư tưởng, xây dựng nền văn hoá mới xã hội chủ nghĩa mang đặc trưng dân tộc - khoa học - đại chúng bao hàm nội dung hấp thụ có chọn lọc những thành quả của văn minh loài người, kết tinh và nâng lên một tầm cao mới giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam tiếp tục được phát triển trong suốt nhiều năm tháng sau đó. Đây là kim chỉ nam cho các hoạt động văn hoá, văn nghệ, tạo sự đoàn kết thống nhất tư tưởng, động viên văn nghệ sĩ nêu cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội quyết tâm giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà. Như vậy, với tinh thần “văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” (Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa năm 1951), sự lãnh đạo kiên trì của Đảng với đường lối phát triển văn hóa dân tộc, trong giai đoạn từ 1945 đến 1975, văn hóa cách mạng Việt Nam đã có những đóng góp thực sự lớn lao, tạo nên sức mạnh tinh thần, tư tưởng to lớn cùng với sức mạnh chính trị, quân sự, kinh tế trong chiến lược tổng hợp để chiến thắng kẻ thù xâm lược, đem đến những thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giành lại thống nhất đất nước.

Hình ảnh múa rối nước (Ảnh: Sưu tầm)

Hình ảnh múa rối nước (Ảnh: Sưu tầm)

XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Sau khi thống nhất, cùng với việc xây dựng, củng cố chế độ chính trị và xây dựng, phát triển kinh tế, toàn quốc hướng đến mục tiêu lớn là xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa. Trong suốt 10 năm tiếp theo, từ năm 1976 đến 1986, Đảng tiếp tục đẩy mạnh cách mạng tư tưởng và văn hóa với nhiệm vụ "xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa” với tính chất dân tộclàm chủ tập thể về văn hóa, tạo ra cho mọi quần chúng nhân dân một cuộc sống tinh thần phong phú, phù hợp với mục đích cao quý của chủ nghĩa xã hội.

Nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, được xác lập trên bốn phương diện cơ bản là: văn hóa lao động gắn với ý thức mình vì mọi người, mọi người vì mình; văn hóa giao tiếp bình đẳng; văn hóa gia đình hạnh phúc; văn nghệ miêu tả hiện thực xã hội chủ Nghĩa, nhằm mục tiêu là thoả mãn ngày càng đầy đủ không những nhu cầu vật chất mà cả nhu cầu văn hóa của toàn xã hội, là biến mọi giá trị văn hóa thành tài sản của nhân dân và tạo mọi điều kiện để nhân dân trực tiếp sáng tạo ra mọi giá trị văn hóa,… từng bước xây dựng đất nước ta thành một xã hội văn hóa cao(1).

Năm 1986 mở ra bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng đất nước ở nước ta khi Đảng quyết định tiến hành công cuộc Đổi mới toàn diện. Cùng với sự đổi mới trong tư duy kinh tế và chính trị, Đảng ta đã có những đổi mới quan trọng trong tư duy về văn hóa từ việc xác định vị trí, vai trò cũng như trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa cách mạng, tiếp nhận các giá trị văn hóa của dân tộc và thời đại. Gắn chặt nội dung và tinh thần của sự nghiệp đổi mới "Đổi mới là văn hóa, văn hóa là đổi mới" (Thủ tướng Phạm Văn Đồng), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986 của Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, đề cao vai trò của văn hoá trong đổi mới tư duy, thống nhất về tư tưởng, dứt bỏ cơ chế cũ không còn phù hợp, thiết lập cơ chế mới; khẳng định đồng thời vừa xây dựng kinh tế, vừa phải coi trọng các vấn đề văn hoá, tạo ra môi trường văn hoá thích hợp cho sự phát triển. Tiếp theo đó, Đảng đã xác định: "Văn hóa là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện trình độ phát triển chung của một đất nước, một thời đại, là lĩnh vực sản xuất tinh thần tạo ra những giá trị văn hóa, những công trình nghệ thuật được lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm giàu đẹp thêm cuộc sống con người"(2).

Có thể nói đây là một bước ngoặt trong nhận thức của Đảng về đổi mới văn hóa trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước khi làm rõ, phê phán quan niệm khá phổ biến trước đây coi văn hóa là hoạt động phi sản xuất, có tính tiêu dùng, hoặc chỉ là phương tiện giản đơn nhằm tuyên truyền cho chính trị. Điều này cho thấy văn hóa cách mạng ở Việt Nam đã có được thành tựu lớn lao khi ngày càng đặt vấn đề văn hóa, con người vào vị trí trung tâm trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cũng trong thời gian này, trên thế giới, tư duy của nhân loại về văn hóa cũng đã có những nhận thức mới, thể hiện trong quan điểm của UNESCO về "Thập kỷ phát triển văn hóa" (1987-1996), trong đó, văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ và một số lĩnh vực khác. 

Kế thừa tinh thần này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định văn hóa cùng với giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Chính vì thế, trong những năm đầu đổi mới, khi nền kinh tế Việt Nam có sự bứt phá và đạt được kết quả ngoạn mục, đời sống vật chất của người dân được cải thiện, mọi người thi đua lao động sản xuất và làm giàu nhanh chóng thì việc định vị văn hóa ngày càng rõ ràng hơn và được đặt đúng vị trí là một trong những trụ cột của phát triển.

Đặc biệt, Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) ghi nhận một nấc thang mới trong phát triển văn hóa cách mạng của Đảng khichủ trương: “Xây dựng nền văn hóa mới, tạo ra một đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ”(3) và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) của Đảng đã lần đầu tiên đưa ra quan niệm “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội(4). Đây là luận điểm mới mẻ, sáng tạo nói lên mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và sự phát triển, nhấn mạnh vị thế, vai trò của văn hóa đối với chính trị, kinh tế và các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội.

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

Tuy nhiên, sau 10 năm đồng hành cũng sự nghiệp đổi mới, trên tổng thể thì những thành tựu trong phát triển văn hóa không bắt kịp sự tăng trưởng kinh tế. Sự tấn công thầm lặng nhưng hết sức dữ dội từ mặt trái của nền kinh tế thị trường đã dẫn đến những diễn biến phức tạp trong sự phát triển của văn hóa. Trước tình hình ấy, Đại hội VIII của Đảng năm 1996 đã nhận ra vai trò, vị trí quan trọng của văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, từ đó đặt ra vấn đề “hình thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới phù hợp với truyền thống, bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại”(5). Với quan điểm chỉ đạo này, lần đầu tiên Đảng đề ra nhiệm vụ xây dựng văn hóa gắn liền với hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đáp ứng công cuộc đổi mới. Nhưng phải đến hai năm sau, trong Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (tháng 7 năm 1998), Đảng ban hành Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” thì hệ thống lý luận văn hóa thời kỳ đổi mới của Đảng mới cơ bản được hoàn thiện, trong đó các vấn đề văn hóa được xem xét một cách cụ thể, có hệ thống.

Nhiệm vụ của văn hóa cách mạng thời kỳ mới đã được đặt ra một cách rõ ràng, đó là: 1) Xây dựng văn hóa Việt Nam phải lấy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc làm cơ sở, nền tảng; 2) Xây dựng văn hóa Việt Nam cần phải học tập, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, bổ sung các giá trị mới.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII ra đời đã tạo ra một bước ngoặt toàn diện trong tư duy lý luận của Đảng về văn hóa và vai trò của văn hóa, thể hiện tầm nhìn chiến lược về văn hóa, phù hợp yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân và xu thế phát triển của đất nước. Với Nghị quyết này, văn hóa đã đặc biệt khẳng định được vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển của đất nước, được nhìn nhận là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì thế, trong chỉ đạo xây dựng và phát triển văn hóa, tinh thần này được quán triệt sâu sắc, cả về phương diện lý luận và đặc biệt trong hoạt động thực tiễn, trở thành một nội dung lớn trong hoạt động của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp. Trong những năm tiếp theo, việc “tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”(6) trở thành một nhiệm vụ quan trọng của văn hóa cách mạng và được tuyên truyền, triển khai thực hiện sâu rộng.

Chính nhờ những chỉ đạo đúng đắn, sát sao nhằm phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu những thành tựu và tinh hoa văn hóa nhân loại, hoàn thiện hệ thống giá trị văn hóa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế…, văn hóa Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn. Nhìn chung, văn hóa đã bước đầu khẳng định vị trí là nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, góp phần vào thành công của sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Với những thành tựu đạt được, có th nói Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII là văn kiện mang tính cương lĩnh của Đảng về văn hóa trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, đánh dấu một thành tựu quan trọng trong xây dựng, tuyên truyền và phát triển văn hóa cách mạng trong tiến trình cách mạng dân tộc.

Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (Trong ảnh: Đua thuyền trong lễ hội truyền thống chùa Bạch Hào, tỉnh Hải Dương)_Ảnh: Tư liệu

Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (Trong ảnh: Đua thuyền trong lễ hội truyền thống chùa Bạch Hào, tỉnh Hải Dương)_Ảnh: Tư liệu

GẮN MỤC TIÊU XÂY DỰNG VĂN HÓA VỚI XÂY DỰNG CON NGƯỜI

Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, bên cạnh những thành tựu quan trọng, Đảng ta nhận thấy văn hóa Việt Nam phát triển có nhiều diễn biến phức tạp, bộc lộ những hạn chế, nhất là trong xây dựng môi trường văn hóa và con người Việt Nam. Trên cơ sở đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (năm 2014) đã nhấn mạnh việc gắn mục tiêu xây dựng văn hóa với xây dựng con người, đó là: “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước”, trong đó, nhấn mạnh việc hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa, phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Nếu trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII của Đảng mới chỉ dừng lại ở luận điểm: "Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc", thì nay luận điểm mới của Đảng đã có sự mở rộng, làm rõ đặc trưng của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được kết tinh thành những tính chất: tiên tiến, dân tộc, nhân văn, dân chủ, tiến bộ bằng quan điểm “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”. Có thể nói, bốn đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam là: Dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học chính là bốn giá trị cốt lõi của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đến Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (năm 2016), Đảng tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hệ thống lý luận văn hóa và phản ánh định hướng giá trị chung trong xây dựng phát triển văn hóa đất nước thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, đó là Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(7). Đồng thời, Nghị quyết khẳng định “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” gắn bó với vấn đề xây dựng con người và chỉ rõ mối quan hệ không tách rời giữa văn hóa với kinh tế, chính trị tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước. Ðiều đó có nghĩa là, Ðảng ta đã xác định văn hóa trong quan hệ khăng khít với tất cả các thành tố và lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội và của sự phát triển đất nước. “Gắn kết giữa xây dựng văn hóa với xây dựng con người”, có nghĩa là cùng với mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì xây dựng con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là chủ thể của sự phát triển cũng là một mục tiêu của văn hóa cách mạng thời kỳ này. Chính vì vậy, trong những năm qua, hơn bao giờ hết, công tác tuyên truyền, giáo dục trong Đảng và toàn xã hội, làm cho mọi người nhận thức sâu sắc tầm quan trọng đặc biệt của văn hóa trong phát triển, mối liên hệ giữa văn hóa với chính trị và kinh tế; nắm vững nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam có nhân cách, lối sống đẹp…. được đẩy mạnh và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng được cải thiện; nhiều giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc được phát huy; nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành. Hình thức, hoạt động văn hóa được đa dạng hóa; xã hội hóa trên lĩnh vực văn hóa được mở rộng; nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị, trong đó nhiều di sản được thế giới công nhận là di sản của nhân loại. Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và văn hóa tâm linh được quan tâm; quyền tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ, quyền tiếp cận thông tin, tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được thể hiện trên thực tế. Lĩnh vực văn học nghệ thuật, thông tin đại chúng phát triển mạnh mẽ. Công tác nghiên cứu lý luận về văn hóa và phát triển được đẩy mạnh; công tác đào tạo cán bộ, nhân viên, tài năng văn hóa nghệ thuật được quan tâm; đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa, văn học nghệ thuật có bước trưởng thành; giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa được mở rộng,...

Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn dân chủ và khoa học_Ảnh: Tư liệu

Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn dân chủ và khoa học_Ảnh: Tư liệu

Đến Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta xác định xây dựng và phát huy giá trị, sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam là một trong trong các nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược, theo đó chúng ta cần “Phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam; khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển của dân tộc, tinh thần yêu nước, tự hào, ý chí tự cường và lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội; xây dựng môi trường và đời sống văn hoá phong phú, đa dạng, văn minh, lành mạnh, hội nhập quốc tế; đề cao ý thức, trách nhiệm, đạo đức xã hội, sống và làm việc theo pháp luật”(8). Để làm được điều đó, chắc chắn chúng ta cần quan tâm nhiều hơn đến "phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hoá, bảo đảm vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế; xây dựng môi trường văn hoá một cách toàn diện ở gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư, trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, doanh nghiệp để văn hoá thực sự là động lực, đột phá phát triển kinh tế, xã hội, hội nhập quốc tế. Khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tự hào dân tộc, tính cộng đồng và khát vọng vươn lên. Đề cao tính tiên phong, gương mẫu trong văn hoá ứng xử của người lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức và đảng viên. Khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người dân được phát huy các năng lực tự do sáng tạo trong đời sống kinh tế, xã hội. Phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc xây dựng môi trường văn hoá, con người giàu lòng nhân ái, khoan dung, chân thành, tín nghĩa, trọng đạo lý, đức tính cần cù, chăm chỉ, tiết kiệm, sáng tạo, hiện đại. Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Quan tâm đầu tư đúng mức để phát triển văn hoá, từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hoá giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, miền và các giai tầng xã hội. Bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá tốt đẹp của các dân tộc và di sản văn hoá. Từng bước hạn chế, tiến tới xoá bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu. Hình thành thị trường sản phẩm dịch vụ văn hoá, thông tin lành mạnh góp phần làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, xu hướng phát triển xã hội, đấu tranh, lên án các hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục góp phần xây dựng xã hội an ninh, an toàn, dân chủ, tiến bộ. Nâng cao vai trò của văn hoá, nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách của con người Việt Nam, nhất là trong thế hệ trẻ. Bảo đảm quyền hưởng thụ, tự do sáng tạo trong hoạt động văn hoá, nghệ thuật của mỗi người dân và cộng đồng. Hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp văn hoá; phát triển những sản phẩm, loại hình văn hoá độc đáo có sức lan toả để quảng bá, giới thiệu ra thế giới”(9).

Có thể nói trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng vị trí, vai trò của văn hóa trong xây dựng và phát triển đất nước. Đảng ta đã luôn đưa ra những chỉ đạo sâu sắc và kịp thời đối với từng giai đoạn phát triển của đất nước và trong mọi hoàn cảnh, những chỉ đạo của Đảng luôn bám sát thực tiễn, thích ứng sự thay đổi của thực tiễn, đồng thời phù hợp với bối cảnh thế giới và sự phát triển của đất nước.

Chính vì thế, gần một thế kỷ đã trôi qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, văn hóa cách mạng Việt Nam luôn là một động lực tạo nên sức mạnh chính trị, tinh thần, tư tưởng to lớn cùng với sức mạnh chính trị, quân sự, kinh tế trong chiến lược tổng hợp để bảo vệ và xây dựng Tổ quốc và đã đạt được những thành tựu quan trọng. Những thành tựu ấy có tính bao trùm, hàm chứa xuyên suốt từng thời kỳ của tiến trình cách mạng, phản ánh sự phát triển văn hóa của dân tộc.

PGS.TS. Bùi Hoài Sơn

-------------------------------------

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb. Sự thật, H, 1981.

(2) Nghị quyết 05-NQ/TW, ngày 28/11/1987 của Bộ Chính trị về “Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa”.

(3) (5) Phan Ngọc Liên (chủ biên): Biên niên sử các Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Từ điển Bách khoa, H., 2006, t.2, tr.680, 80.

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, H, 1991.

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2006.

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2016.

(8) (9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr. 221-222, 262-264.

Có thể bạn quan tâm

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Liên kết website

Xem nhiều nhất