Hội thảo do Học viện Quốc phòng
Australia, Học viện Ngoại giao Việt Nam và Viện các vấn đề quốc tế Nhật
Bản đồng tổ chức. Đoàn các chuyên gia Việt Nam do Giám đốc Học viện
Ngoại giao Nguyễn Vũ Tùng dẫn đầu đã tham gia các phiên thảo luận tại
hội thảo.
Trong
3 ngày diễn ra hội thảo, các chuyên gia đã tập trung thảo luận nhiều
vấn đề như triển vọng chiến lược và địa kinh tế ở khu vực Ấn Độ-Thái
Bình Dương trước sự gia tăng căng thẳng ở Biển Đông; thế khó về kinh tế
và an ninh cho Đông Nam Á liên quan vấn đề Biển Đông; quan hệ Mỹ-Trung
trong vấn đề Biển Đông; lợi ích quốc gia và vai trò của những cường quốc
chính và bậc trung trong vấn đề này; nhìn lại luật pháp quốc tế, Công
ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 và phán quyết của Tòa Trọng
tài tại La Hay (Hà Lan); những thách thức và các biện pháp thực thi để
giảm thiểu xung đột hay giải quyết tranh chấp… Đa số các học giả cho
rằng trước những diễn biến thay đổi nhanh chóng ở Biển Đông, cần liên
tục đánh giá lại việc thực thi chiến lược của cuộc tranh chấp giữa nhiều
bên này, song cũng cần xem xét vấn đề địa kinh tế vốn thường bị lãng
quên mà cụ thể là mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và sự thay đổi về
quyền lực quốc gia và địa chính trị trong bối cảnh gia tăng căng thẳng ở
Biển Đông. Một số học giả đã nêu ra những quan điểm, thách thức và tình
huống khó xử cho các bên mà cuộc tranh chấp ở Biển Đông gây ra như về
lãnh thổ, quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên, suy thoái môi trường,
thách thức cho thương mại, viện trợ và đầu tư…, cũng như vai trò và sự
đóng góp của ASEAN trong tương lai.
Trước
sự căng thẳng gần đây ở Biển Đông, mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc đã
gây ra nhiều tranh cãi khi có những ý kiến cho rằng đây chủ yếu là kết
quả của “sự cạnh tranh sức mạnh lớn”, song cũng có thể là sự cường điệu
hóa chiến lược hay Mỹ bị miễn cưỡng lôi kéo vào do những cam kết liên
minh và lo ngại về tác động của sự bất ổn khu vực. Ý nghĩa, tác động của
mối quan hệ này đối với tranh chấp ở Biển Đông hay ngược lại là sự tác
động của cuộc tranh chấp này đối với các quan hệ quyền lực lớn và tiến
triển về quan điểm trong chính sách đối ngoại, quốc phòng ở Mỹ và Trung
Quốc… đã được các chuyên gia thảo luận sôi nổi. Về vai trò của những
nước nằm ngoài tranh chấp, một số diễn giả đã chỉ ra những lĩnh vực mà
các nước như Nhật Bản, Ấn Độ và Australia có thể hỗ trợ như về kinh tế,
ngoại giao, quân sự, song đi kèm đó cũng có rất nhiều yếu tố cản trở vai
trò đơn phương hay tập thể từ những nước này.
Sau
phán quyết của Tòa trọng tài tại La Hay về vụ kiện của Philippines đối
với Trung Quốc, hội thảo cũng đề cập nhiều đến lịch sử, vai trò pháp lý,
những điểm mạnh, điểm yếu của luật pháp quốc tế trước những yêu cầu cụ
thể cần thực thi trong khu vực Biển Đông. Để giảm thiểu xung đột hay
giải quyết tranh chấp, nhiều diễn giả cho rằng cần phát triển những cách
tiếp cận chính sách mang tính xây dựng và khả thi nhất cho các nước
tranh chấp và liên quan trong khu vực. Liên quan chủ đề này, các đại
biểu tham dự đã tập trung thảo luận về những lựa chọn chính sách, cách
tiếp cận mà các nước tuyên bố chủ quyền có thể áp dụng, vai trò, sự đoàn
kết trong ASEAN hay làm thế nào để các cường quốc như Ấn Độ, Mỹ, Nhật
Bản có thể góp phần hợp lý nhằm giảm căng thẳng cũng như duy trì hòa
bình và ổn định cho khu vực này.
Giáo sư Carlyle Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia.
|
Tham
dự hội thảo, Giáo sư Carlyle A.Thayer thuộc Học viện Quốc phòng
Australia đã có bài tham luận đề cập đến tình hình Biển Đông sau phán
quyết của Tòa trọng tài tại La Hay, phản ứng của các bên liên quan, các
nước có tuyên bố chủ quyền cũng như ASEAN, trong đó nhấn mạnh đến vai
trò và những việc ASEAN có thể làm để góp phần giảm căng thẳng ở Biển
Đông.
Trao
đổi với phóng viên TTXVN bên lề hội thảo, Giáo sư Carlyle A.Thayer cho
rằng sau phán quyết của Tòa Trọng tài hồi tháng 7, bất kể Trung Quốc có
chấp nhận hay không, thì các cường quốc hàng hải còn lại như Mỹ, Nhật
Bản, Australia, Anh, Pháp, Liên minh châu Âu… đều thừa nhận phán quyết
đó nay như một phần của luật pháp quốc tế. Tòa đã nói rất rõ rằng không
có đảo đá nào ở Trường Sa mà Trung Quốc yêu sách có khả năng tạo ra vùng
đặc quyền kinh tế với 200 hải lý và chỉ có các cấu trúc nổi khi thủy
triều lên cao sẽ tạo ra quyền với lãnh hải 12 hải lý và mọi tàu thuyền
quân sự đều có quyền đi qua mà không bị cản trở.
(TTXVN)