Thứ Sáu, 21/6/2024
Y tế - Dân số
Thứ Tư, 10/7/2019 15:54'(GMT+7)

Cảnh báo “trẻ hóa” ung thứ vú: cần khám sàng lọc định kỳ

Bị ung thư không có nghĩa là “dính án tử hình”

Hằng năm, trên thế giới có có khoảng 2 triệu người mắc mới bệnh ung thư vú, đứng thứ hai sau ung thư phổi và chiếm khoảng 12% tổng số bệnh  nhân ung thư trên thế giới. Về tỷ lệ tử vong, ung thư vú đứng thứ tư sau ung thư phổi, ung thư đại trực tràng, ung thư dạ dày và ung thư gan.

Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc ung thư vú đang ngày càng gia tăng và trẻ hóa. Tần suất mắc bệnh ung thư vú chuẩn hoá theo tuổi tăng gấp đôi trong vòng 2 thập kỉ gần đây, từ 13,8/100.000 (năm 2000) lên 29,9/100.000 phụ nữ (năm 2010). Tỷ lệ mắc mới hằng năm trên cả nước lên tới 12.533 ca, chiếm trên 20% tổng số ca ung thư ở nữ giới.

ThS, BS Vũ Anh Tuấn, Khoa Phẫu thuật lồng ngực và mạch máu, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, tỷ lệ bệnh nhân nữ trẻ đến khám và phẫu thuật u vú ngày càng tăng trong những năm gần đây. Trước đây, ung thư vú thường rơi vào phụ nữ trên 40 nhưng hiện nay, có những bệnh nhân dưới 30 như chị Đ.T.T (Văn Giang, Hưng Yên phát hiện ung thư khi mới 29 tuổi, chưa lập gia đình.

Theo TS. Nguyễn Thanh Đạm, Tổng Thư ký Hội Ung thư Việt Nam, bệnh nhân ung thư, đặc biệt là bệnh nhân trẻ tuổi không nên có suy nghĩ bị ung thư là “dính “án tử hình”. Tại Hội nghị Ung thư vú Quốc tế tổ chức ở Thành phố Nha Trang (Khánh Hòa), PGS.TS.BS. Nguyễn Đình Tùng, Phó Giám đốc Trung tâm ung bưới, Bệnh viện Trung ương Huế cho biết: Ung thư vú có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời và đúng phương pháp. Phát hiện sớm thì điều trị càng đơn giản, hiệu quả, tỷ lệ chữa khỏi cao và chi phí điều trị càng thấp.

Việc phát hiện thông qua sàng lọc sớm đóng vai trò quan trọng trong điều trị bệnh. Chẩn đoán sớm ung thư vú làm tăng cơ hội điều trị thành công, giảm biến chứng. Ngược lại, phát hiện chậm trễ, lựa chọn điều trị ít, khả năng sống sót thấp hơn, chi phí chăm sóc cao hơn và dễ dẫn tới tàn tật và biến chứng.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, thói quen tầm soát ung thư vú sớm chưa phổ biến rộng. Vì vậy, rất nhiều trường hợp bị chẩn đoán muộn, thường phải cắt bỏ cả vú, điều trị bổ trợ như hóa trị, xạ trị. Thậm chí, nhiều bệnh nhân tử vong do phát hiện quá muộn.

Tầm soát sớm giúp 85,6% bệnh nhân ung thư vú có tỷ lệ thời gian sống trên 5 năm

Theo các bác sĩ chuyên khoa, tất cả chị em phụ nữ trong độ tuổi trưởng thành nên tầm soát ung thư. Việc này càng trở nên cấp thiết hơn với chị em trên 40 tuổi, vì đây là độ tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất. Nếu trong gia đình có người thân từng bị mắc UTV thì những phụ nữ trong gia đình nên đi tầm soát UTV sớm.

Bên cạnh việc thăm khám khi có triệu chứng, các bác sĩ cũng khuyến cáo chị em phụ nữ, đặc biệt là những chị em trên 40 tuổi cần chủ động tầm soát ung thư vú khi chưa có triệu chứng, để phát hiện bệnh ở giai đoạn đầu. Khi đó, cơ hội chữa khỏi bệnh đạt trên 90%.

Theo BS. Vũ Anh Tuấn, Khoa Phẫu thuật lồng ngực và mạch máu, Bệnh viện Bạch Mai: “Những thành tựu mới trong chẩn đoán và điều trị ung thư đã giúp cho nhiều bệnh nhân UTV phát hiện sớm có tỷ lệ thời gian sống trên 5 năm tới 85,6% so với tỷ lệ 67,7% trước đây”.

Phương pháp cơ bản nhất trong sàng lọc ung thư vú giúp giảm tỷ lệ tử vọng qua những thử nghiệm lâm sàng có đối chứng là chụp X quang tuyến vú. Theo đó, các bác sĩ sẽ sử dụng chùm tia X cường độ thấp để ghi hình nhu mô tuyến vú. Phương pháp này giúp phát hiện các bất thường, khối u ở giai đoạn sớm (các vi vôi hóa) ngay cả khi bệnh nhân chưa sờ và cảm nhận thấy. Chụp X-quang vú đã được chứng minh có hiệu quả trong phát hiện sớm UTV, đặc biệt là loại ung thư biểu mô ống tuyến vú tại chỗ, nghĩa là chưa xâm lấn. Với giai đoạn này khả năng trị khỏi hoàn toàn là rất cao và trong đa số trường hợp có thể phẫu thuật bảo tồn tuyến vú cho người bệnh. Chụp X-quang vú được khuyến cáo áp dụng ở tất cả phụ nữ trên 40 tuổi và chụp định kỳ hàng năm.

ThS, BS Vũ Anh Tuấn cho biết, hiện tại có hai xu hướng tái tạo là sử dụng mô tự thân và sử dụng chất liệu thay thế. Phương pháp sử dụng mô tự thân là sử dụng các tổ chức của cơ thể mình như vạt cơ lưng rộng, cơ bụng để có thể tái tạo tuyến vú. Ưu điểm của phương pháp này là thích nghi tốt với cơ thể, có thể thay đổi theo trọng lượng của cơ thể khi tăng hay giảm cân. Tuy nhiên đối với mô tự thân, việc phẫu thuật kéo dài và thường để lại vết sẹo lớn ở nơi khác như ở lưng hoặc ở bụng. Và đây là một phẫu thuật tương đối phức tạp, có thể phải sử dụng đến vi phẫu và nó có cả nguy cơ hoại tử mô. Hiện nay trên thế giới ở các quốc gia và vùng lãnh thổ phát triển như Mỹ, Đài Loan (Trung Quốc) chỉ có khoảng 10% bệnh nhân lựa chọn phương pháp này.

Hiện có một phương pháp phẫu thuật thay thế đơn giản hơn , có đến 90% bệnh nhân lựa chọn phương pháp này chính là sử dụng các chất liệu thay thế như túi giãn mô thì đầu, sau khi đạt được thể tích nhất định người ta sẽ sử dụng Gel Implant vĩnh viễn, sau đó bệnh nhân cũng phải trải qua một bước nữa là tái tạo núm vú và xăm quầng núm vú.

"Đối với bệnh nhân UTV giai đoạn sớm và vị trí khối u ở vùng rìa tuyến vú hoặc khối u chưa có biểu hiện xâm lấn thì các bác sĩ có thể thực hiện kỹ thuật bảo tồn, đặc biệt là với những bệnh nhân trẻ. Bảo tồn luôn đi đôi với xạ trị, dùng hóa chất đúng phác đồ, sau đó phải theo dõi và khám định kỳ tốt. Đối với phẫu thuật bảo tồn có ưu điểm là có thể giữ lại hình thể tuyến vú một cách tự nhiên cho bệnh nhân, bảo đảm tính thẩm mỹ, đặc biệt đối với những bệnh nhân còn trẻ tuổi, chưa lập gia đình", BS Tuấn cho hay.

Phương Nguyên
Phản hồi

Các tin khác

Thư viện ảnh

Liên kết website

Mới nhất