Thứ Tư, 24/7/2024
Xã hội
Thứ Ba, 14/12/2021 8:33'(GMT+7)

Kinh nghiệm về đào tạo nghề, tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn ở một số quốc gia trên thế giới

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, tạo ra cơ hội để chuyển dịch sản xuất theo hướng từ nền kinh tế năng suất thấp sang nền kinh tế năng suất cao; tạo ra những thay đổi lớn trong cơ cấu của các ngành kinh tế, đặc biệt là công nghiệp cũng như đóng góp của mỗi ngành trong tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế. Cùng với đó quá trình cơ giới hóa nông nghiệp dưới tác động của công nghệ 4.0 với nhiều sự phát triển mới, hiệu quả sử dụng máy móc sẽ cao hơn rất nhiều so với hiện nay. Việc ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp sẽ ngày càng phổ biến.

Để thích ứng với cuộc Các mạng công nghiệp lần thứ tư, nhiều quốc gia trên thế giới đã có những giải pháp đổi mới phương thức đào tạo nghề cho người lao động, đa dạng hình thức đào tạo gắn với việc tạo ra nhiều cơ hội việc làm góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

1. Kinh nghiệm từ Trung Quốc

Năm 2019, dân số Trung Quốc là 1,4 tỷ người, trong đó có 551,92 triệu người dân số sống ở khu vực nông thôn (tương đương với 39,4% dân số). Lao động có việc làm ở khu vực nông thôn là 332 triệu người[1].Vấn đề cải cách, phát triển nông thôn đã được Trung Quốc quan tâm thực hiện trong suốt 4 thập kỷ qua, đặc biệt từ năm 2002 với phương châm chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành thị và nông thôn, giải quyết tốt vấn đề “Tam nông” (nông nghiệp – nông dân – nông thôn) là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất mà Đảng Cộng sản Trung Quốc đề ra. 

Cùng với việc thực hiện hàng loạt các chính sách nhằm phát triển toàn diện khu vực nông thôn về kinh tế, hạ tầng cơ sở, việc cải thiện chất lượng nguồn nhân lực nông thôn cũng được Đảng, Chính phủ quan tâm. Chiến lược phát triển nhân lực của Trung Quốc coi cải thiện chất lượng nhân lực và văn hoá của nông dân là vấn đề cốt lõi của “tam nông”, giải pháp là việc làm cho họ và các biện pháp chính sách chuyển dịch cơ cấu lao động, thúc đẩy lực lượng lao động dư thừa khu vực nông thôn sang các ngành phi nông nghiệp.

Chính sách đào tạo lao động nông thôn gắn với việc làm được thực hiện với 4 trọng tâm: (i) đào tạo lại lao động phục vụ sản xuất nông nghiệp; (ii) đào tạo ngành phi nông nghiệp, nhất là về chế biến thực phẩm, thủ công mỹ nghệ, du lịch sinh thái; (iii) đào tạo các kỹ năng marketing và buôn bán nông nghiệp quy mô nhỏ; (iv) hỗ trợ thành lập các doanh nghiệp nông thôn quy mô vừa và nhỏ nhằm thu hút lực lượng lao động. Nhờ vậy, cơ hội tìm kiếm việc làm của người học nghề tại nông thôn cũng được nâng lên[2].

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn được áp dụng theo 4 nguyên tắc: Đưa giáo dục việc làm đến tận làng, xã; giáo dục nghề nghiệp dạy theo nhu cầu; các hoạt động giáo dục phải được chuẩn hóa và quản lý chặt chẽ công tác đào tạo nghề. Các nguyên tắc này đã tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân, giúp họ có thời gian học và cơ hội thực hành. Ngoài ra, các chương trình đào tạo nghề nông nghiệp nông thôn cũng được thiết kế phục vụ nông nghiệp theo mùa vụ, theo lĩnh vực nuôi trồng và nhu cầu của nông dân, như vậy mới tạo động lực và kích thích sự sáng tạo của người học. Các tiêu chí quản lý học viên cũng được thực hiện nghiêm khắc, chặt chẽ nhằm đảm bảo hiệu quả dạy và học. Trung Quốc cũng thiết kế và thực hiện chương trình “1 triệu học sinh tốt nghiệp trung cấp nghề về làm việc ở nông thôn” trong 2 năm. Việc đánh giá, kiểm định tay nghề của nông dân chuyên nghiệp sẽ được thực hiện bởi chính quyền địa phương và được lưu thành file cơ sở dữ liệu để người quản lý có thể kiểm soát[3]

Trung Quốc cũng thực hiện khẩu hiệu “Ai ai cũng có kiến thức”, người lao động chưa qua đào tạo và trình độ thấp thì được đào tạo; thực hiện chương trình ánh sáng tham gia đào tạo và hướng nghiệp cho người lao động nông thôn; Chính phủ còn áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích tạo việc làm trong chiến dịch nông thôn mới, kể cả việc tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng cho nông thôn, xóa bỏ phí học phí cho vùng nông thôn. Ngoài Bộ Lao động và An sinh xã hội thì Bộ Dân chính cũng tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn; bình quân hàng năm phải đào tạo khoảng 1 triệu người lao động cho vùng khó khăn. Với miền núi khó khăn, tập trung đào tạo nghề, đưa đến các khu vực phát triển để tìm việc làm, tạo ra nguồn thu nhập lớn cho vùng khó khăn[4].

Chính phủ lập kế hoạch xây dựng các của hàng bán lẻ ở khu vực nông thôn nhằm tạo việc làm cho họ thông qua “Dự án hàng nghìn ngôi làng”, vừa góp phần giải quyết việc làm trong lĩnh vực dịch vụ, vừa đưa được sản phẩm chất lượng tốt đến người dân nông thôn. Đồng thời, chính quyền mở lớp đào tạo kỹ năng, khuyến khích người dân tự lập nghiệp, thực hiện các chính sách chuyển dịch cơ cấu việc làm ngay tại chỗ, giúp tạo ra hàng chục nghìn việc làm mới cho lao động di cư thành phố trở về vùng nông thôn do khủng hoảng tài chính, mất việc làm…  Những lớp đào tạo tay nghề, kỹ năng và các biện pháp khuyến khích lập nghiệp rất phổ biến ở Trung Quốc, nhất là vùng nông thôn. Một số tỉnh thực hiện đơn giản hóa thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, miễn phí đăng ký kinh doanh cho các hộ nông dân, khuyến khích sinh viên tốt nghiệp các trường đại học - cao đẳng về quê lập nghiệp[5].

Nhờ vậy, số lượng và doanh thu của các doanh nghiệp đầu đàn hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp cũng như số lượng hợp tác xã và hiệp hội không ngừng tăng lên; việc thực hiện mục tiêu “một xã một doanh nghiệp, một trấn một sản phẩm” đạt được bước tiến quan trọng; cơ cấu kinh tế nông nghiệp được chuyển đổi theo hướng tích cực, hiệu quả kinh tế nông nghiệp và thu nhập của người nông dân đều tăng lên. Nhiều địa phương coi trọng việc ứng dụng khoa học công nghệ vào nông nghiệp và phát triển du lịch sinh thái, thương mại, gia công hàng nông sản… Từ đó, lĩnh vực thương mại, lưu thông hàng hóa và du lịch ở khu vực nông thôn có bước phát triển quan trọng; thu nhập từ ngành dịch vụ đã trở thành một trong ba nguồn thu nhập chính của người nông dân ở nhiều địa phương; đồng thời có tới 50 triệu lượt nông dân được đào tạo nghề thông qua việc thực hiện chính sách dịch chuyển lao động nông thôn. Bên cạnh đó, chính quyền ở nhiều địa phương cũng tích cực thiết lập và vận hành mạng dịch vụ công về lao động việc làm, thực hiện tốt công tác hướng dẫn, quản lý và phục vụ về lao động việc làm; tăng cường hợp tác với các đơn vị đào tạo nghề và sử dụng lao động; góp phần tăng tỷ lệ lao động dịch vụ ở nông thôn Trung Quốc[6].

2. Kinh nghiệm của Thái Lan

Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước vào những năm 2000, tuy nhiên, nền kinh tế và thị trường lao động Thái Lan đã chuyển dịch từ nền kinh tế nông nghiệp – nông thôn là chủ yếu sang các ngành sản xuất, dịch vụ thành thị trong những thập kỷ gần đây. Mặc dù vậy, ngành nông nghiệp nước này vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, đồng thời cũng là lĩnh vực tạo ra nhiều việc làm nhất cho dân cư nông thôn (ngành nông nghiệp thu hút 40% lực lượng lao động và đóng góp 10% cho GDP của Thái Lan)[7].

Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp dạy nghề và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân; ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp. Nông dân Thái sớm được tiếp cận với đổi mới công nghệ, hơn 90% nông dân Thái Lan sử dụng cơ giới, máy móc trong nông nghiệp, từ gieo trồng đến thu hoạch. Đồng thời, chính phủ thực hiện kế hoạch dài hạn là Dự án phát triển “nông dân thông minh” (thực hiện từ 2013) thông qua việc nâng cao kỹ năng và năng lực sản xuất nông nghiệp từ các chương trình đào tạo, chia sẻ kiến thức và thông tin. Một nhóm nông dân đáp ứng được các tiêu chí đề ra sẽ được chọn để đào tạo về kiến thức kỹ thuật, kỹ năng truyền thông và trở thành “tiểu giáo viên” cấp thôn, nhà quản lý, bằng cách này, kiến thức và kinh nghiệm thực tế sẽ được lan toả giữa những người nông dân, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp[8]. Ngoài ra, Nhà nước đã thực hiện gắn kết giữa dạy nghề với sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, tăng sức cạnh tranh hàng nông sản; xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ cho nông nghiệp, qua đó bảo đảm việc làm cho lao động khu vực nông thôn.

Ngoài tập trung đào tạo, đào tạo lại cho nông dân để phát triển sản xuất nông nghiệp phù hợp với sự sự thay đổi của công nghệ, Thái Lan đã thực hiện các khoá đào tạo như: đào tạo ngành phi nông nghiệp, nhất là về chế biến thực phẩm, thủ công mỹ nghệ, du lịch sinh thái; đào tạo các kỹ năng marketing và buôn bán nông nghiệp quy mô nhỏ; hỗ trợ thành lập các doanh nghiệp nông thôn quy mô vừa và nhỏ nhằm thu hút lực lượng lao động. Đi đôi với đào tạo là các chiến lược chuyển dịch từ hoạt động thuần nông sang công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến, dịch vụ và du lịch nhằm giải quyết đầu ra về việc làm cho người lao động sau khi học nghề[9].

Với lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu. Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển. Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và chương trình Quỹ làng. Chính phủ Thái Lan có chính sách hỗ trợ cho nông dân như trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng; giúp nông dân kỹ năng chế biến nông sản, thực phẩm; hỗ trợ dạy nghề cho nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản…

Ngoài ra, Chính phủ cũng thúc đẩy công nghiệp ở các thành phố lớn phát triển lan toả về khu vực nông thôn, từ đó tạo cơ hội việc làm cho lao động nông thôn. Nhằm cung ứng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp công nghiệp hoạt động ở nông thôn, Thái Lan tổ chức đào tạo bồi dưỡng về khoa học công nghệ cho lao động nông thôn. Theo đó, Thái Lan có khoảng gần 200 tổ chức, đơn vị thực hiện chức năng đào tạo, bồi dưỡng về khoa học công nghệ cho lao động nông thôn, bình quân mỗi năm tuyển sinh từ 1.500 đến 5.000 người. Sau khi tốt nghiệp, căn cứ vào nhu cầu của các địa phương, các đơn vị thực hiện chức năng đào tạo, bồi dưỡng sẽ thay mặt học viên liên hệ để thu xếp việc làm cho học viên[10].

Đồng thời, chú trọng chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang ngành dịch vụ, đặc biệt là du lịch nông thôn dựa vào lợi thế về đa dạng văn hoá, truyền thống và nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực nông thôn. Hiện tại, du lịch nông thôn được phát triển theo 5 hướng: (i) du lịch nghỉ dưỡng; (ii) du lịch gắn với tìm hiểu văn hoá, lịch sử và khảo cổ; (iii) du lịch sinh thái gắn với bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên, duy trì giá trị nhân văn và giá trị xã hội truyền thống của người dân địa phương; (iv) du lịch gắn với làng bản, chia sẻ cuộc sống với người dân làng, chia sẻ những thành quả kinh tế và các lợi ích khác; (v) du lịch nông học, có thể nhìn, quan sát và thực hành các hoạt động nông nghiệp truyền thống, nhưng các hoạt động này không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái hoặc năng suất của vùng.

3.Kinh nghiệm của Nhật Bản


Nhật Bản đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động nghiêm trọng do già hoá dân số, đồng thời, là sự chênh lệch giữa dân số khu vực thành thị và nông thôn. Tuy nhiên, kinh nghiệm phát triển của Nhật Bản cho thấy, quá trình công nghiệp hoá của quốc gia này được khởi đầu bằng giai đoạn phát triển đột phá của nông nghiệp, mặc dù đến nay đã là nước công nghiệp phát triển, nhưng Nhật Bản vẫn rất chú trọng đảm bảo sản xuất nông nghiệp. Từ những năm 1960, Nhật Bản đã đề ra định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp có chọn lọc, đẩy mạnh sản xuất những sản phẩm có nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng và giảm sản phẩm có sức tiêu tụ kém. Đồng thời hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp, phát triển những nông hộ và hợp tác xã có năng lực về quản lý kinh doanh và canh tác. Chính phủ tạo điều kiện để nông dân sản xuất giỏi có thể tích luỹ ruộng đất, phát triển quy mô sản xuất, trở thành nông dân chuyên nghiệp sản xuất hàng hoá lớn thông qua tổ chức hợp tác, trang bị cho họ kỹ năng sản xuất, quản lý nông hộ, năng lực tiếp thu kho học – công nghệ và nắm bắt các yêu cầu của thị trường[11].    

Ở Nhật Bản, hầu hết nông dân đều tự nguyện tham gia vào hợp tác xã (HTX). Một trong những đặc trưng nổi bật của HTX nông nghiệp Nhật Bản là hình thức HTX nông nghiệp đa chức năng về hoạt động kinh doanh. Các HTX đa chức năng không bị hạn chế về quy mô hoạt động, họ tham gia hầu hết các hoạt động và dịch vụ từ marketing, cung ứng vật tư, nhận tiền gửi và cho vay, bảo hiểm, đào tạo nghề, hướng dẫn kinh doanh nông nghiệp cho nông dân.

Kế hoạch hóa sản xuất cùng với dạy nghề, nâng cao kỹ năng nghề giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Nội dung chính trong hướng dẫn hoạt động nông nghiệp hiện nay tập trung chủ yếu vào việc phổ biến kỹ thuật nông nghiệp, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp. Các trung tâm thí nghiệm của nhà nước đảm nhận việc nghiên cứu phát triển kỹ thuật cải tạo giống, kỹ thuật gieo trồng, kỹ thuật sử dụng máy móc…, trong khi đó các HTX nông nghiệp đảm nhận công tác dạy nghề, phổ biến kỹ thuật.

Để giúp cho các nông dân điều hành tốt và có hiệu quả sản xuất nông nghiệp, HTX nông nghiệp còn tiến hành các hoạt động hướng dẫn kinh doanh nông nghiệp cho nông dân bằng cách thành lập trong mỗi HTX các tổ tư vấn về nông nghiệp. Các tổ tư vấn luôn gắn chặt công việc của mình với các cơ quan quản lý hành chính, các trạm nghiên cứu nông nghiệp, các cán bộ chăn nuôi thú y và các nhóm nghiên cứu khoa học khác.

Đồng thời, Nhật Bản rất thành công khi dạy cho nông dân các kỹ thuật chế biến sản phẩm cổ truyền. Mô hình “mỗi làng một sản phẩm” đã được hình thành và phát triển từ cách suy nghĩ này. Bên cạnh việc duy trì và phát triển các mặt hàng truyển thống, một cách làm khác đã mang lại thành công cho nhiều HTX chế biến ở Nhật Bản là phát triển mặt hàng mới. Cách làm này cũng được coi là chìa khóa thành công của tiêu thụ sản phẩm. Từ mô hình này, người nông dân đã có nhiều sáng tạo trong việc khai thác sản phẩm nông nghiệp truyền thống do địa phương tự sản xuất trong phát triển du lịch ở các khu vực nông thôn và miền núi.

Hoạt động dạy nghề đặc biệt được coi trọng trong các HTX nông nghiệp Nhật Bản. Luật HTX nông nghiệp quy định tất cả các HTX phải dành 5% tổng lợi nhuận hàng năm cho việc đào tạo nghề cho các xã viên và cán bộ của HTX, nhằm giúp họ nâng cao kiến thức, tay nghề để làm việc có hiệu quả hơn phục vụ cho sự phát triển của chính HTX. Các HTX có quỹ riêng dành cho giáo dục đào tạo nghề; ngoài ra HTX có hoạt động khuyến khích các xã viên và cán bộ tham gia các lớp tập huấn đào tạo nghề ngoài HTX, kinh phí do HTX chi trả. Ngoài ra, HTX còn thực hiện các hoạt động nâng cao hiểu biết, kiến thức xã hội cho nông dân và giúp họ tạo ra cuộc sống tốt đẹp hơn cho gia đình[12].

Nhật Bản cũng đã tập trung đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật nông nghiệp. Theo đó, để việc áp dụng khoa học – công nghệ, cơ giới hoá... có hiệu quả, các viện nghiên cứu đã tăng cường liên kết với các trường đại học, các hệ thống khuyến nông, các tổ chức của nông dân để giúp nông dân tiếp cận công nghệ, trang thiết bị tiên tiến và được trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết để ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, giúp tăng năng suất, chất lượng, đảm bảo nông nghiệp tăng trưởng ổn định. Ngày nay, các công nghệ hiện đại như AI, IoT, công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) và robot tự lái đã được sử dụng để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong nông nghiệp.

Ngoài sản xuất nông nghiệp, Nhật Bản đặc biệt coi trọng phát triển công nghiệp và dịch vụ ở các vùng nông thôn để giải quyết vấn đề việc làm cho lao động nông thôn đồng thời thu hút lao động về các vùng nông thôn làm việc nhằm khắc phục tình trạng lao động di cư đến các thành phố lớn gây mất cân đối cung – cầu lao động và các hệ luỵ xã hội khác.

Chính phủ thông qua chính sách, kế hoạch, quy hoạch để thúc đẩy ngành công nghiệp ở các thành phố lớn như Tokyo, Osaka, Nagoya, Kyoto, Kobe, Kitakyushu, Yokosuka, Sapporo, Hokkaido, Okinawa, Fukuoka... phát triển lan tỏa về nông thôn; tăng cường đầu tư phát triển sân bay, đường cao tốc, cảng biển cũng như hệ thống thông tin liên lạc ở nông thôn, từ đó cải thiện điều kiện sản xuất và môi trường đầu tư khu vực nông thôn, tăng cường sức thu hút của doanh nghiệp lớn đối với nguồn nhân lực chất lượng cao; hình thành và kiện toàn cơ quan quản lý nhà nước về phát triển công nghiệp nông thôn các cấp... Những biện pháp này đã có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp hiện đại ở nông thôn Nhật Bản, qua đó góp phần giải quyết việc làm vùng nông thôn[13].

4. Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Tại Hàn Quốc, các nghiên cứu về xây dựng thực hiện các chương trình, dự án phát triển nông thôn được các nhà khoa học thực hiện từ những năm 60 của thế kỷ XX, việc đề xuất giao quản lý các chương trình, dự án cho cộng đồng được chính phủ chấp thuận. Một trong các giải pháp đề ra là phải xây dựng nguồn nhân lực nông thôn.

Trước hết, Chính phủ đầu tư đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý dự án, tiến hành song song là việc tăng đầu tư ngân sách vào đào tạo người dân nông thôn với mục tiêu cao nhất là làm thay đổi suy nghĩ thụ động, trông chờ ỷ lại của người dân vào Nhà nước đã ngự trị trong phần lớn nông dân nước này qua nhiều thế kỷ. Mục tiêu của chính sách đào tạo nông dân là giúp họ có niềm tin mãnh liệt vào chính mình trước những khó khăn về vật chất và tinh thần để họ trở nên tích cực, năng động, sáng tạo đối với sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn trên đất nước Hàn Quốc. Phong trào xây dựng nông thôn mới là một trong những kinh nghiệm tốt của Hàn Quốc trong việc định hướng cho chiến lược phát triển nông thôn nói chung và phát triển nguồn nhân lực nông thôn nói riêng. Trong phong trào này, Chính phủ Hàn Quốc đã đề cao và nhấn mạnh yếu tố quan trọng nhất trong phát triển nông thôn là “phát triển tinh thần của nông dân”, lấy kích thích vật chất nhỏ kết hợp với đào tạo và sự cởi mở, thông thoáng của chính sách để tạo động lực kích thích mạnh mẽ tinh thần của người dân nông thôn và qua đó phát huy nguồn vốn nội lực to lớn tiềm tàng của người dân nông thôn.

Đồng thời, tiến hành đào tạo chuyên môn, chuyển giao kiến thức nghề nghiệp, kỹ năng làm việc cho người lao động nông thôn theo nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế. Việc chuyển giao kiến thức, đào tạo nghề, kỹ năng chuyên môn cho người lao động nông thôn để tạo ra năng lực làm việc có năng suất lao động cao là công việc chung của cả Nhà nước, các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế trong xã hội.

Kinh nghiệm của Hàn Quốc về cho thấy, Chính phủ phải là nhà đầu tư lớn nhất và toàn diện nhất vào xây dựng các cơ sở đào tạo nghề, nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng cho người lao động. Các doanh nghiệp và cơ sở kinh tế có trách nhiệm trong việc đưa ra nhu cầu, kế hoạch về sử dụng lao động và tham gia cùng Chính phủ dưới nhiều hình thức khác nhau trong triển khai các chương trình đạo tạo nghề cho người lao động mà mình đang sử dụng hoặc sẽ sử dụng.

Để có nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu phát triển của kinh tế nông thôn, Chính phủ đã chủ động xây dựng và công bố các định hướng phát triển kinh tế trong dài hạn, trung hạn và ngắn hạn trên quy mô cả nước và đối với từng vùng, trên cơ sở đó hình thành kế hoạch phát triển nguồn nhân lực đáp ứng cho các nhu cầu của từng ngành và lĩnh vực kinh tế. Đồng thời, thường xuyên theo dõi sự biến chuyển của cơ cấu kinh tế để điều chỉnh kịp thời công tác đào tạo nguồn nhân lực mới cho các ngành đang và sẽ hình thành và đào tạo lại người lao động ở những ngành bị mất đi để giúp họ có đủ năng lực chuyển sang hoạt động ở các ngành kinh tế mới, đặc biệt trong bối cảnh cơ giới hoá và ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp ngày càng được phổ biến rộng rãi.

Hàn Quốc đã triển khai chính sách tín dụng hỗ trợ cho lực lượng lao động nông nghiệp trẻ để họ học nghề mới, đặc biệt là lao động mới bước vào nghề. Chương trình này được triển khai sâu rộng ở các khu vực nông thôn, là cầu nối giữa các chuyên gia và các nhà nông có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp, sau đó bổ nhiệm những người này vào các vị trí tư vấn và giám hộ cho các đối tượng lao động trẻ còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong các hoạt động liên quan tới nông nghiệp. Chính phủ Hàn Quốc đứng ra chi trả các khoản chi phí về tư vấn, đào tạo và giám hộ cho những người thực hiện hoạt động này. Hàn Quốc đã chủ động định hướng cho các trường trung học bổ sung ngay vào chương trình giảng dạy một số môn học nghề mà nền kinh tế đang cần với số học sinh trung học tham gia tới khoảng 40-50% tổng số đang theo học, từ đó tạo ra lực lượng lao động trẻ có hiểu biết và có kỹ năng làm việc ở mức tối thiểu ở các ngành nghề đang phát triển mở rộng, đáp ứng đúng nhu cầu của nền kinh tế và toàn dụng được số học sinh trung học sau tốt nghiệp[14].

Mặt khác, Hàn Quốc đã chú trọng phát triển công nghiệp vùng nông thôn nhằm hạn chế sự phát triển không cân bằng của công nghiệp ở thành thị so với nông thôn. Việc thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp ở khu vực thành thị về nông thôn được thực hiện từ những năm 1960 với hàng loạt chính sách như Luật Phát triển công nghiệp địa phương; kế hoạch công nghiệp hoá nông thôn... Với các chính sách này, ban đầu các hộ gia đình hoạt động nông nghiệp là chủ yếu, và được đào tạo nghề phụ liên quan đến công nghiệp khi làm việc tại các doanh nghiệp địa phương. Sau khi ban hành phong trào Làng mới từ những năm 70, để đẩy mạnh phong trào này, Hàn Quốc đã tập trung phát triển các nhà máy ở làng mới với nhiều chính sách ưu đãi, nhờ vậy những doanh nghiệp và nhà máy này đã đào tạo nghề và giải quyết được việc làm cho hàng triệu lao động nông thôn.

Giáo dục và đào tạo là động lực đằng sau các dự án của phong trào Làng mới. Công tác đào tạo làm cho tinh thần của phong trào thấm nhuần vào tâm trí của người dân và dân được hướng dẫn cách nâng cao thu nhập và nâng cấp các kỹ năng và nghề thủ công. Các trường nông nghiệp, đặc biệt, đưa ra các khóa học nhận thức về tinh thần của phong trào, công nghệ canh tác hiện đại, và làm thế nào để hoạt động và duy trì các thiết bị nông nghiệp. Nhờ vậy, chỉ trong vòng chưa đến 10 năm, phong trào đã đạt đến ngưỡng phát triển ở mức cao nhất với những câu chuyện thành công của hợp tác xã gương mẫu ở làng quê và thị trấn cùng với phong trào quốc gia về cải cách xã hội[15].

6. Một số vấn đề đặt ra đối với công tác đào tạo nghề, tạo việc làm để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn ở Việt Nam

Trong đánh giá về phát triển thị trường lao động giai đoạn 2016-2020[16], Ở Việt Nam việc chuyển dịch cơ cấu lao động trên thị trường còn chậm, không theo kịp chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Năm 2020, lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc là 53,61 triệu người, bao gồm 17,74 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 33,1% tổng lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc; khu vực công nghiệp và xây dựng 16,51 triệu người, chiếm 30,80% tổng lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc; khu vực dịch vụ 19,35 triệu người, chiếm 36,10% tổng lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc. Trong khi cơ cấu nền kinh tế năm 2020, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,85%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,72%; khu vực dịch vụ chiếm 41,63%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,8%. Tình trạng mất cân đối cung - cầu lao động cục bộ giữa các vùng, các khu vực, ngành nghề kinh tế vẫn chưa được giải quyết. Hiện nay, lực lượng lao động vẫn tập trung đông nhất ở khu vực Đồng bằng sông Hồng (chiếm trên 22%), tiếp đến là khu vực Bắc Trung bộ, Duyên hải miền Trung (trên 21%) và Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là các khu vực có diện tích đất rộng, tập trung nhiều thành phố lớn, khu đô thị và nhiều khu công nghiệp, thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh nên thu hút đông đảo lao động tập trung ở những khu vực này. Những khu vực chiếm tỷ lệ thấp là những khu vực có diện tích đất hẹp, nhiều đồi núi, ít khu đô thị và khu công nghiệp nên không thu hút nhiều lao động đến đây. Cơ cấu lực lượng lao động phân theo 2 khu vực thành thị và nông thôn cũng có sự chênh lệch lớn. “Chính sách phát triển thị trường lao động thiếu đồng bộ, chưa thống nhất giữa các chính sách tăng trưởng kinh tế và việc làm, thị trường lao động; chưa kịp thời có giải pháp ứng phó với những thay đổi trên thị trường lao động (khủng hoảng kinh tế, dịch bệnh, thiếu hụt lao động,…). Mạng lưới cơ sở GDNN vẫn còn chồng chéo, phân tán, trùng lắp ngành, nghề đào tạo; chưa có cơ chế bảo đảm hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp”,

Nhìn chung, lực lượng lao động ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn, chiếm khoảng gần 70%. Quy mô, cơ cấu và chất lượng nhân lực có kỹ năng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Lao động qua đào tạo không đạt mục tiêu giai đoạn 2016-2020, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo yêu cầu có bằng, chứng chỉ chưa cao, đây là vấn đề đặt ra đối với công tác đào tạo nghề cho lao động, chất lượng, hiệu quả của công tác đào tạo nghề thể hiện năng lực, trình độ tay nghề để tạo nguồn lao động có chất lượng nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, và trong bối cảnh Việt Nam sẽ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa một cách toàn diện, đồng bộ giai đoạn 2021-2026

Vì vậy, từ bài học kinh nghiệm về đào tạo nghề cho lao động gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo việc làm ở một số quốc gia nêu trên có thể rút ra một số bài học tham khảo cho Việt Nam như sau:

Thứ nhất, cần đề cao vai trò của đào tạo nghề cho lao động nông thôn, coi đào tạo nghề cho lao động nông thôn là yếu tố tiên quyết, là nền tảng phục vụ cho quá trình CNH – HĐH khu vực nông thôn nói riêng và cả nước nói chung. Kể cả những nước đang phát triển như Trung Quốc, Thái Lan hay những nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn đều rất được coi trọng. Đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Nhà nước, Nhà nước phải trở thành “nhà đầu tư lớn nhất và toàn diện nhất” với chiến lược phân bổ ngân sách đầu tư hợp lý vào đào tạo nghề, nâng cao trình độ, kỹ năng cho lao động nông thôn chuẩn bị bước vào nghề cũng như đang làm việc (như kinh nghiệm của Hàn Quốc).

Thứ hai, việc đào tạo chuyên môn, chuyển giao kiến thức nghề nghiệp và kỹ năng làm việc cho lao động ở nông thôn phải căn cứ theo nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế và phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.

Cả bốn quốc gia được nghiên cứu đều đào tạo theo nhu cầu và đào tạo phù hợp với sự phát triển của khoa học của công nghệ của của quốc gia đó. Công nghệ, cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp đã được ứng dụng, người nông dân được trang bị kiến thức sử dụng, vận hành máy móc, thiết bị trong nông nghiệp (Trung Quốc, Thái Lan) hay thậm chí được tiếp cận các kiến thức, kỹ năng để ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại như trí tuệ nhân tạo, IoT, robot... trong sản xuất nông nghiệp (Nhật Bản, Hàn Quốc).

Đồng thời, các nước đều chú trọng đào tạo các ngành nghề phi nông nghiệp  để cung cấp lực lượng lao động phục vụ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo gắn đào tạo với giải quyết việc làm. Các ngành nghề phi nông nghiệp đào tạo cho người lao động có thể gắn với nông nghiệp (chế biến nông sản, hướng dẫn kinh doanh sản phẩm nông nghiệp, du lịch nông thôn... phù hợp với thế mạnh của địa phương) hoặc các ngành nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ (đào tạo cho công nhân trong các nhà máy ở khu vực nông thôn, đào tạo lao động cho các cửa hàng bán lẻ ở khu vực nông thôn...). Kinh nghiệm của Hàn Quốc về theo dõi sự biến chuyển của cơ cấu kinh tế để kịp thời có sự điều chỉnh trong các ngành đào tạo, để cung cấp lao động phục vụ cho các ngành mới hình thành cũng như đào tạo lại lao động trong những ngành mất đi nhằm đảm bảo họ có đủ năng lực thích ứng với ngành nghề mới là bài học đáng lưu ý trong bối cảnh khoa học và công nghệ ngày càng phát triển nhanh chóng.

Thứ ba, có chính sách, kế hoạch, quy hoạch để phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng (đường giao thông, thông tin liên lạc...), cải thiện môi trường đầu tư, xây dựng chính sách ưu đãi với doanh nghiệp để tạo thuận lợi và tăng cường sức hút, thúc đẩy các nhà đầu tư xây dựng các nhà máy, khu công nghiệp ở khu vực nông thôn nhằm phát triển công nghiệp và các hoạt động dịch vụ ở nông thôn, qua đó tạo thêm nhiều việc làm mới, góp phần giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động khu vực này cũng như thu hút lao động trở về nông thôn làm việc. Cả Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản và Hàn Quốc đều chú trọng thực hiện chính sách này, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa khu vực nông thôn và thành thị, giảm tình trạng lao động di cư nông thôn – thành thị.

Thứ tư, cần huy động sự tham gia của các bên, kết hợp hoạt động giữa các “nhà” (nhà đào tạo, nhà doanh nghiệp, nhà nước...) trong công tác dạy nghề, đặc biệt là sự hợp tác giữa các đơn vị đào tạo nghề và đơn vị sử dụng lao động. Đặc biệt, Nhật Bản với mô hình tổ chức hợp tác xã dựa trên nền tảng làng xã nông thôn, đã phát huy được sức mạnh của các tổ chức cộng đồng cư dân nông thôn trong hoạt động tư vấn sản xuất, đào tạo nghề, nâng cao kiến thức xã hội... từ đó hình thành ý thức kỷ luật, thói quen hợp tác nhằm cải thiện cuộc sống nông thôn ngày một tốt đẹp hơn./.

Đào Trọng Độ
-Tổng cục Giáo dục Nghề nghiệp

--------------------------------

(1) - China Statistical Yearbook 2020 truy cập tại http://www.stats.gov.cn

(2) - https://dangcongsan.vn/kinh-te/kinh-nghiem-di-chuyen-lao-dong-cua-trung-quoc-va-thai-lan-29756.html

(3) - https://nongnghiep.vn/4-nguyen-tac-dao-tao-nghe-o-trung-quoc-d96697.html

(4) - http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/c/document_library/get_file?uuid=1696e7e0-3d02-4ca3-9611-31f43296d5ac&groupId=13025

(5 ) - https://nhandan.vn/tin-tuc-the-gioi/Trung-Qu%E1%BB%91c-n%E1%BB%97-l%E1%BB%B1c-t%E1%BA%A1o-th%C3%AAm-vi%E1%BB%87c-l%C3%A0m-cho-khu-v%E1%BB%B1c-n%C3%B4ng-th%C3%B4n-523819/

(6 ) -https://tcnn.vn/news/detail/39869/Xay_dung_nong_thon_moi_o_Trung_Quoc_Thanh_tuu_va_kinh_nghiemall.html

(7) -  https://vinanet.vn/kinhte-taichinh/nong-nghiep-tru-do-cua-nen-kinh-te-thai-lan-727736.html

(8) - http://www.khuyennongvn.gov.vn/vi-VN/khoa-hoc-cong-nghe/khcn-nuoc-ngoai/chuong-trinh-phat-trien-nong-dan-thong-minh-o-thai-lan_t114c39n21186

(9) - https://dangcongsan.vn/kinh-te/kinh-nghiem-di-chuyen-lao-dong-cua-trung-quoc-va-thai-lan-29756.html
(10) - PGS. TS. Nguyễn Quốc Dũng (2020), Phát triển tổng hợp vùng nông thôn góp phần giải quyết việc làm, kinh nghiệm của một số quốc gia. bài đăng trên tạp chí Lý luận chính trị số 11-2020, truy cập tại: http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/quoc-te/item/3429-phat-trien-tong-hop-vung-nong-thon-gop-phan-giai-quyet-viec-lam-kinh-nghiem-cua-mot-so-quoc-gia.html

(11) - Nguyễn Hồng Thư, Phát triển nông nghiệp nông thôn của Nhật Bản, bài đăng trên trang Web của Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, truy cập tại: http://iasvn.org/tin-tuc/Phat-trien-Nong-nghiep,-nong-thon-cua-Nhat-Ban---kinh-nghiem-cho-Viet-Nam-2392.html

(12) - Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp (2013), Giải pháp nâng cao chất hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo quyết định 1956

(13) - PGS. TS. Nguyễn Quốc Dũng (2020), Phát triển tổng hợp vùng nông thôn góp phần giải quyết việc làm, kinh nghiệm của một số quốc gia. bài đăng trên tạp chí Lý luận chính trị số 11-2020, truy cập tại: http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/quoc-te/item/3429-phat-trien-tong-hop-vung-nong-thon-gop-phan-giai-quyet-viec-lam-kinh-nghiem-cua-mot-so-quoc-gia.html

(14) - ThS. Vĩ Văn Hùng, ThS. Nguyễn Thị Linh Hương (2013), Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực nông thôn của Hàn Quốc, bài đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 4/2013, truy cập tại :https://kinhtevadubao.vn/kinh-nghiem-phat-trien-nguon-nhan-luc-nong-thon-cua-han-quoc-3656.html

(15) - http://truongchinhtrithanhhoa.gov.vn/web/trang-chu/tai-lieu-tham-khao/kinh-nghiem-dao-tao-boi-duong-trong-va-ngoai-nuoc/phat-trien-nong-thon-bai-hoc-tu-han-quoc(1).html

(16) - Theo Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội khóa XIV.

Phản hồi

Các tin khác

Thư viện ảnh

Liên kết website

Mới nhất